Sống Đạo Chúa giữa đời thường
Home
Sống Đạo Chúa
giữa đời thường
hay tư tưởng của Cha Thánh
Adolph Kolping
► 1. Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, là chân lý vĩ đại nhất mà chúng ta có được
► 2. Đức Tin là nền tảng của cuộc sống
► 3. Hội Thánh Công Giáo là một gia đình tuyệt hảo
► 4. Đức Tin được phản ánh qua con người và qua hoạt động của mỗi Kitô hữu
► 5. Thiên Chúa sẽ không bao giờ để kẻ tin cậy Ngài phải thất vọng
► 6. Thiên Chúa tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài
► 7. Nhận thức sống động về Đấng Cứu Độ là trung tâm của mọi nền giáo dục chân chính
► 8. Thiên Chúa đặt mỗi người vào nơi mà Ngài cần
► 9. Con người sẽ phục vụ những người mình yêu mến
► 10. Hôn nhân là một thể chế thánh thiện mà Thiên Chúa đã thiết lập
► 11. Nguồn gốc nhân loại là ở gia đình
► 12. Đời sống xã hội là tấm gương phản ánh trung thực đời sống gia đình
► 13. Giáo dục là sự sống và phải dựa trên sự sống
► 14. Những ai muốn được lòng người phải biết thế chấp lòng mình
► 15. Yêu thương nhau là nghĩa vụ quan trọng nhất của Kitô giáo
► 16. Chắc chắn không thể làm vừa lòng tất cả mọi người
► 17. Thế giới không thể hợp nhất nếu không có Đức Tin và Chân Lý
► 18. Phúc lợi cộng đồng dựa vào khả năng cá nhân
► 19. Chúng ta chọn người không phải cho hôm nay mà cho ngày mai
► 20. Chỉ những người tốt mới cải tiến được thế giới
► 21. Tình yêu Kitô giáo đích thực phải tái chinh phục thế giới
► 22. Người ta thường thiếu Đức Tin đích thực
► 23. Rõ ràng chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng
► Home
o0o
Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa,
là chân lý vĩ đại nhất mà chúng ta có được
1. Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, là chân lý vĩ đại nhất mà chúng ta có được (RV 1865, S. 68).
2. Thiên Chúa và Chân Lý không thể tách rời nhau (RV 1859, S. 698).
3. Những quan niệm sâu xa và cao cả nhất mà thế giới có được chắc chắn phải nằm trong Kitô giáo, vì Đạo Chúa Kitô là Chân Lý của chính Thiên Chúa (RV 1859, S. 531).
4. Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa và chắc chắn là Con Thiên Chúa, nếu như việc cứu độ là có thật. Nếu Đức Kitô không phải là Con Thiên Chúa thì Ngài đã không thể hoàn tất công cuộc cứu độ của Ngài; và nếu thế thì tự bản chất Kitô giáo là ảo ảnh và rỗng tuếch (KP 27.3.1846).
5. Nếu Đức Kitô là Con Thiên Chúa thì Ngài cũng là Đấng Cứu Độ trần gian, và thế giới cũng cần được cứu độ. Vì vậy, Ngài thực sự mang đến ơn cứu độ không chỉ cho từng cá nhân mà cho cả thế giới (KP 26.2.1848).
6. Nếu Kitô giáo là Chân Lý, thì đó chính là Chân Lý toàn diện và không thể chối cãi (RV 1860, S. 701).
7. Nếu Đức Kitô không thể sai lầm, thì việc Ngài cứu chuộc và giải thoát con người khỏi lầm lỗi và dối trá cũng không thể sai lầm. Vì thế, chắc chắn con người sẽ nhờ Ngài mà nhận ra những chân lý cần thiết cho vận mệnh của mình ở trần gian và vận mệnh vĩnh cửu của mình (KP 13.3.1846).
8. Ngôn từ và giáo huấn của Đức Kitô không phải là Chân Lý pha tạp kiểu vàng thau lẫn lộn mà chính là Chân Lý tinh tuyền, đơn thuần và trong sáng vượt trên tất cả mọi chân lý khác (KP 13.3.1846).
9. Chân Lý thực sự có tầm quan trọng và có tính quyết định đã được Thiên Chúa khiến cho trở nên rõ ràng và đơn giản đến nỗi bất kỳ ai nhiệt tâm tìm kiếm thì sẽ tìm thấy được, và khi cần, sẽ hiểu thấu Chân Lý ấy (RV 1861. S. 483).
10. Hiểu biết về Thiên Đàng để làm gì nếu ta không có phương tiện chắc chắn và không thể sai lầm để vào Thiên Đàng đó. Biết rằng mình là tội nhân thì có ích gì nếu ta không biết cách làm sao thoát khỏi tội (KP 18.5.1846).
11. Tôn giáo này - «tôn giáo» ở đây chỉ có nghĩa duy nhất là Kitô giáo - bày tỏ cho linh hồn con người thấy mục tiêu rõ ràng và chắc chắn, đặc tính và ý nghĩa của linh hồn dưới ánh sáng đích thực của tôn giáo; Nhờ vậy Kitô giáo khiến cho cuộc sống con người có được phương hướng đúng đắn (RV 1858, S. 765).
12. Mọi điều thiện hảo đều có nền tảng nơi tôn giáo và thường chỉ thiện hảo là nhờ tôn giáo. Nếu thực là có một hệ thống hoặc một ý thức hệ, dù có hấp dẫn hào nhoáng mấy đi nữa mà không đặt nền tảng trên tôn giáo, thì vẫn không thể vững bền và sớm muộn gì cũng sẽ biến mất. Chỉ có tôn giáo mới là mối liên kết mọi hệ thống, ý kiến, quan niệm. Chỉ có tôn giáo mới là nguồn Chân Lý sinh hoa kết quả đưa chúng ta tới vận mệnh đời đời (KS 2, S. 19).
13. Không ai có thể sống mà không có tôn giáo. Mọi người đều cần đến tôn giáo. Thật vậy, tôn giáo là nhân tố quan trọng nhất làm cho đời sống gia đình được hạnh phúc và phát triển. Phải, tôn giáo chính là nền tảng của đời sống cá nhân, gia đình, quốc gia, nhà nước và toàn thể thế giới văn minh (VO 1850, S. 7).
14. Khi làm việc trong yêu thương thì Đức Tin là một khí cụ tuyệt diệu và phi thường. Nó hùng cường hơn mọi đạo binh và mạnh mẽ hơn cả địa ngục. Nó là thứ dấu chỉ của quyền năng thiêng thánh mà Đấng Cứu Thế sử dụng nơi những kẻ theo Ngài để chinh phục thế gian về cho Triều Đại của Ngài (RK 1850. S. 2).
15. Nếu tôn giáo chỉ được xem như một cuộc thực tập của lý trí, nó sẽ trở thành bóng ma hư ảo trống rỗng không hiện thực, không sống động gì cả (FS 1851, Tr 86).
16. Tôn giáo chỉ trở thành hiện thực bằng tình yêu tự hiến mà thôi (VK 1854, S. 9a).
17. Nếu tôn giáo không đâm chồi nẩy lộc trong tâm hồn và trong cuộc sống thì nó sẽ không thể và sẽ không có tác động đích thực nào cho thế giới cả (VK 1851, S. 6).
18. Đức tin là nền tảng duy nhất cho mọi nền giáo dục, mọi nhân đức xã hội và cá nhân, mọi niềm hạnh phúc sâu xa. Đức tin là người bảo vệ hòa bình và là nguồn an ủi cho mọi cảnh nghèo (FS 1852, S. 55).
19. Thiên Chúa chúng ta là Đấng Thánh. Vì là thánh thiện, nên Ngài nhân từ, nhưng cũng rất công bình. Thiên Chúa không tạo dựng gì mà không có chủ đích; mọi sự do Ngài dựng nên đều có giá trị, có ý nghĩa và có chủ đích riêng. Vì thế không được coi thường bất cứ điều gì Thiên Chúa tạo dựng nên (RV 1859, S. 487).
20. Tôn giáo hòa giải, hợp nhất và liên kết tất cả những gì đích thực thuộc về nhau (RV 860, S. 295).
21. Tôn giáo là ân huệ cao cả nhất. Nếu có Đức Kitô làm người thì cũng là vì tôn giáo. Do đó, tôn giáo phải được tôn trọng, quy phục và tuân hành trên tất cả. Tôn giáo là chuẩn mực và là kim chỉ nam cho mọi hành động, là nền tảng vững vàng cho mọi điều chân thiện mỹ (KS 2, S. 14).
22. Một trong những ý tưởng ngốc nghếch, hời hợt và lầm lạc nhất là tin rằng sự thật và dối trá, những dối trá của thế gian và Chân Lý của Thiên Chúa lại có thể đi đôi với nhau; hoặc cho rằng hai bên có thể khoan nhượng lẫn nhau trong một mức độ nào đó. Kẻ nào tin như thế thì một là không hiểu được bản chất của sai lầm và dối trá, hai là không hiểu bản chất của sự thật, cũng như người đó không bao giờ quan tâm đến đời sống và hoạt động của tinh thần (KP 6.3.1846).
23. Sẽ có và chắc chắn phải có sự xung khắc thường xuyên giữa sự thật và dối trá, giữa cái đúng và cái sai, bởi vì, tự bản chất, hai cái đó tương phản đối nghịch nhau (KP 6.3.1846).
24. Dù cho con người có cố gắng mấy đi nữa thì sẽ không có một hành động nào thành công nếu như không có tôn giáo (VK 1860, S. 105).
25. Nếu ai muốn uốn nắn Đức Kitô, là Thiên Chúa vĩnh cửu và bất biến, theo hình ảnh riêng của mình, thì người đó sẽ chỉ có thể tạo ra được một ngẫu tượng giả dối mà thôi (KP 20.3.1846).
26. Đức Kitô, là Thiên Chúa, đã hoàn thành công cuộc cứu độ, nghĩa là Ngài đã giải thoát chúng ta khỏi vòng nô lệ, không chỉ là nô lệ thể lý, mà còn là và nhất là nô lệ tâm linh. Bản tính con người muốn được tự do, mà Đức Kitô chính là sự tự do ấy. Làm cho con người tự do chính là hoàn thành công cuộc cứu độ của Ngài (KP 26.2.1846).
27. Đấng Cứu Thế đã làm người. Về mặt thể chất, Ngài cũng giống y như chúng ta. Nhờ đó, những điều Ngài dạy, những việc Ngài làm và những lời Ngài nói mới chuyển đạt được chân lý thánh thiện, vĩnh cửu, vừa tầm lãnh hội của chúng ta (KP 13.3.1846).
28. Đức Kitô là Con Thiên Chúa, và như thế Ngài chính là Đấng giải thoát, là Đấng Cứu Chuộc duy nhất và chân thật, như Giáo Hội Công Giáo trước sau như một đã dạy chúng ta. Điều này vẫn luôn luôn và sẽ mãi mãi là nền tảng của Kitô giáo (KP 27.3.1846).
29. Vì Chúa đã phục sinh, nên Kitô giáo là tôn giáo vĩnh cửu, bất biến và thực sự là Nước Thiên Chúa ở trần gian, (PS 1851, S. 160).
Chương 2
Đức tin là nền tảng của cuộc sống
1. Đời sống phải lấy đức tin làm nền tảng. Tất cả đời sống xã hội, dù mang hình thức nào, đều phải biểu lộ Đức Tin ra cuộc sống (RV 1863, S. 5).
2. Toàn bộ cấu trúc đạo đức của thế giới đều xây trên các nền tảng tôn giáo mà ta gọi là giáo lý. Mọi điều mà con người có thể làm được trên trần gian đều ít nhiều liên quan mật thiết tới giáo lý. Đời sống xã hội, chính trị, kinh tế hay bất cứ thứ gì, cho dù có hoàn toàn thế tục, đều liên quan ít nhiều đến các nền tảng tôn giáo ấy. Nếu bỏ đi một trong những nền tảng ấy, tức bỏ đi một phần cấu trúc xã hội, thì sẽ làm cho toàn cấu trúc ấy bị sụp đổ, và bất kỳ phần cấu trúc mới nào được đặt vào thế chỗ cũng sẽ làm biến đổi toàn cấu trúc và đem lại cho toàn cấu trúc ấy một tính chất mới (RV 1861, Tr 115). (? ? ? )
3. Suốt lịch sử nhân loại, Chân Lý ấy đã từng được giảng dạy hàng tỷ lần, được kiểm nghiệm hằng ngày, và được rao giảng không ngừng «trên mái nhà». Nhưng nếu không nhờ Thiên Chúa thì sẽ chẳng được cải thiện được điều gì, và nếu không có Thiên Chúa thì sẽ chẳng có bình an và niềm vui nào cả! (RV 1865, S. 3).
4. Con người sẽ chẳng là gì nếu không sống đời Kitô giáo vững mạnh và sống động. Nếu sống đời Kitô giáo đích thực, thì đời sống sẽ chẳng được hỗ trợ mạnh mẽ, chẳng được mãn nguyện thực sự, chẳng đạt được những giá trị đích thực, không tạo được sự chính trực vững bền hoặc hạnh phúc nào cho con người. Kitô giáo là nguồn sức mạnh thực sự trong cuộc sống. Nơi nào vắng bóng Kitô giáo, nơi đó đời sống sẽ bệnh hoạn (RV S. 23).
5. Đức Kitô chết trên thập giá, trở thành của lễ hy sinh tạ tội và dâng lên Thiên Chúa sự thờ phượng chân thật trong Thần Khí. Qua sự kiện đó, Ngài hoàn toàn không có ý nói rằng con người sẽ được cứu độ mà không cần phải cố gắng gì cả. Thực vậy, «tại đây và chính lúc này» (hic et nunc), con người được mời gọi kết hợp với Đấng đã gánh hết tội lỗi cho con người và cứu chuộc con người mọi thời đại (KP 27.3.1846).
6. Nếu không xây dựng nền tảng đời mình trên Lời Chúa, người ta cứ xây dựng rồi lại phá hủy, phá hủy rồi lại xây dựng, và cứ thế mãi. Và xét theo về lâu về dài, rốt cuộc người ta sẽ không đạt được điều gì lớn lao, tốt đẹp và có giá trị (KP 31.1.1848).
7. Mặc dầu Kitô giáo không phát xuất từ trần gian mà trực tiếp từ trời, nhưng Kitô giáo đã được tạo nên cho trần gian này. Con Thiên Chúa đã làm người để trở thành Đấng Cứu Độ trần gian. Toàn thể Kitô giáo được xây dựng trên chân lý nền tảng này. Nếu Con Một Thiên Chúa đã đích thân đến trần gian để cứu chuộc nhân loại, thì hành động cứu độ này phải trực tiếp nhắm đến việc phá hủy sự dữ đang hoành hành trên trần gian, và và khôi phục lại giá trị thực cho Lề Luật vĩnh cửu thánh thiện của Ngài trong thế giới. Vì toàn thế giới được dựng nên từ bàn tay Đấng Tạo Hóa nên việc cứu độ của Ngài nhắm đến toàn thể thế giới. Cho dẫu sự dữ đã nhập vào thế gian, thì thế gian vẫn có thể cứu độ được. Chính vì muốn nhân loại được cứu độ mà Thiên Chúa đã nhập thể làm người. Nhờ làm người, Thiên Chúa đã trở nên gần gũi hơn bao giờ hết với mọi mối tương quan của con người vốn đã bị tội lỗi và sự dữ ảnh hưởng một cách hết sức rõ ràng và cụ thể. Vì thế không một cơ cấu nhân loại nào trên trần gian có thể tự bào chữa khi muốn thoát khỏi tầm ảnh hưởng của Kitô giáo…, vì thực ra, mọi sự đều «được đặt dưới chân Ngài». Nếu Kitô giáo đã không nhổ được tận gốc rễ mọi sự dữ trên trần gian thì đó không phải là lỗi của Kitô giáo mà là của những con người vốn yêu chuộng bóng tối hơn ánh sáng, của những con người muốn lẩn tránh Đạo Chúa Kitô và không muốn được cứu độ. Thực ra, đó là sự tự do chọn lựa của mỗi con người có suy phục Đấng giải thoát cho mình hay không. Nhiều người rõ ràng chọn lựa không qui phục Thiên Chúa khi họ tìm đủ mọi cách để khỏi phải quy phục Ngài một cách vô điều kiện như Ngài đòi hỏi. Sự dữ hiện diện trong thế gian là phản ánh cho sự phản kháng ấy, điều đó không có gì lạ (RV 1860, S. 177f).
8. Dù con người về mặt xã hội có phát triển mấy đi nữa thì tự bản chất con người và toàn bộ đời sống của con người vẫn có tính tôn giáo. Vì thế mọi tương quan nhân loại, ngay cả những mối tương quan xem ra là thế tục, ít nhiều vẫn gắn liền với tôn giáo và nhận được ý nghĩa cùng nội dung sâu xa hơn từ tôn giáo (RV 1859, S. 18).
9. Kitô giáo sống động này là nguồn duy nhất cung cấp cho chúng ta những thông tin vượt khỏi những gì chúng ta kinh nghiệm được bằng giác quan, nó là nguồn gốc, là căn bản và là nền tảng của mọi niềm tin đích thực, của mọi chân lý và nhân đức. Điều đó cũng đúng cho đời sống xã hội nữa. Vì vậy, đạo Chúa Kitô cũng là căn bản cho những hoạt động chính trị đúng đắn – Chính trị có nghĩa vụ điều hành và hướng dẫn đời sống xã hội sao cho mọi người đều được hạnh phúc (RV 1857, S. 156).
10. Nhân loại và vận mạng của loài người đều hoàn toàn có tính tôn giáo. Thiên Chúa đã giao trách nhiệm phát triển nhân loại cho gia đình nên Ngài đã tạo nên một giao ước tuyệt vời, mạnh mẽ và mầu nhiệm hơn bất kỳ mối liên hệ nào khác trong giới thụ tạo. Như vậy rõ ràng là Thiên Chúa đã có ý để cho gia đình có được một vận mạng hoàn toàn có tính tôn giáo, và chính vì thế Thiên Chúa đã xây dựng gia đình trên nền tảng hoàn toàn tôn giáo. Chính định mệnh cao quí của mỗi người giúp ta thấu hiểu định mệnh cao cả của toàn thể nhân loại. Chỉ khi những người trong gia đình để ý đến nhau hơn, có chương trình và mục tiêu rõ ràng hơn, thì gia đình mới phát triển tốt đẹp hơn. Sau hết tất cả nhân loại sẽ phát triển thành một đại gia đình bao gồm cả thế giới. Điều này chúng ta sẽ nhận thức được một cách rõ ràng nhất vào ngày phán xét, khi Thiên Chúa phán xét công tội của gia đình theo cách gia đình đã hoàn thành nhiệm vụ của mình như thế nào (RV 1857, S. 227).
11. Kitô giáo thật là Ơn Cứu Độ duy nhất của trần gian, là nền giáo dục duy nhất cho nhân loại. Vấn đề tùy thuộc vào việc con người có sẵn sàng để cho Thiên Chúa cứu độ và dạy dỗ hay không (RV 1859, S. 761).
12. Ơn Cứu Độ chỉ có từ nơi Thiên Chúa là Đấng Duy Nhất. Điều đó cũng áp dụng cho mọi cơ cấu xã hội. Chúng ta thuộc về Đấng Duy Nhất, không có một quyền lực nào trên trần gian có thể hoặc được phép tách rời chúng ta ra khỏi Ngài (MV 1863, H.1, Sp.3).
13. Lòng nhân thực sự, nếu mang tính Kitô giáo, thì phải có nền tảng và mục tiêu Kitô giáo chân thật, và phải như thế mới lòng nhân ấy mới tự chứng tỏ là lòng nhân đích thực (RV 1859, S. 760).
14. Lòng nhân đích thực, chỉ thông qua Kitô giáo mới lấy lại được không gian, ánh sáng, tự do và sự tăng triển mà thôi (RV 1859, S. 758).
15. Lòng nhân đích thực được biến thành vĩnh cửu nhờ tinh thần Kitô giáo (RV 1859, S. 759).
16. Mọi nền công lý của nhân loại trên trần gian đều có nền tảng đích thực trong đức tin, trong chân lý Chúa ban (RV 1856, S. 674).
17. Thế giới quan của con người cơ bản tùy thuộc vào việc người ấy tiếp cận thế giới với nhận thức Kitô giáo hay với lý trí thuần túy nhân loại. Mọi sự sẽ xuất hiện cách khác nhau và sẽ mang một ý nghĩa khác hẳn (RV 1858, S. 165f).
18. Một con bò sẽ nhìn đời theo kiểu con bò, một con lừa thì nhìn đời theo cách con lừa. Con người có lý trí sẽ nhận thức theo lương tri; còn Kitô hữu thì lấy cách hiểu biết của đạo Kitô mà nhìn. Sự khác biệt ấy thường thì không thể đo lường được. Do đó, giống như ta nhìn xem gia đình và đời sống xã hội như một người Công giáo chẳng hạn. Ta ứng dụng những tiêu chuẩn Công giáo và theo đó chỉnh hướng những mong đợi của mình. Như thế có lợi là người ta không nói lan man, không còn hành động theo ngẫu hứng riêng nhưng có những giới hạn được xác định rõ ràng hướng dẫn hành động của mình. Tôn giáo là trung tâm, là mực thước của mọi hoạt động nhân loại. Thực là điên rồ hoặc xấu xa khi nỗ lực hoạt động mà không cần đến tôn giáo. Điều này không chỉ áp dụng cho đời sống gia đình mà còn áp dụng cho mọi hình thái đời sống xã hội cũng như các cơ chế công quyền, cho tới những lãnh vực chính trị cao nhất (RV 1854, S. 5).
19. Công lý có thể chỉ là kết quả của chân lý và phúc lợi là kết quả của công lý. Do đó, Kitô giáo phải đối mặt với một nhiệm vụ không thể lẩn tránh được là phải thâm nhập và thanh tẩy đời sống xã hội để đời sống ấy được hình thành theo nền công lý chân chính và thánh thiện. Kitô giáo dùng cách tiếp cận toàn diện đối với con người và với mọi lãnh vực của đời sống con người. Kitô giáo nhằm giải thoát con người khỏi sự dữ, dạy người ta làm lành, và làm cho người ta mạnh mẽ hơn (RV 1865, S. 86).
20. Phải chăng Con Thiên Chúa từ trời xuống làm người chỉ là để nói với chúng ta về Nước Trời và đời sống mai hậu? Hay phải chăng Ngài cũng chẳng đến thế gian để hướng dẫn cả xã hội nhân loại tới một cuộc sống trần gian hạnh phúc và tốt đẹp hơn? (RV 1856, S. 86).
21. Kitô giáo đã dành vị trí nào cho cá nhân trong xã hội? Kitô giáo chỉ lối cho con người đến đích điểm nào? Trước hết, con người là kẻ được tiền định cho một thế giới khác tốt đẹp hơn chứ không chỉ cho thế giới này và cho công việc trần thế này mà thôi. Ngôi nhà thực sự của con người cũng như mục tiêu duy nhất đích thực của con người là ở một thế giới khác. Vì thế mọi thực tại và cơ chế trần gian về bản chất đều là chuyện phụ. Chúng chỉ là phương tiện dẫn đến cùng đích, nhưng tự chúng không bao giờ là cùng đích cả (RV 1865. S. 701).
22. Những yếu tố thuần túy nhân bản, trần thế và vật chất sẽ không thay đổi và sáng tạo được điều gì bền vững. Những người theo chủ nghĩa nhân bản có ra công rán sức đến mấy đi nữa cũng thế thôi (RV 1858 S. 621).
23. Nếu những sự việc và cơ chế trần thế, kể cả những vấn đề chính trị, không còn được nắm bắt và xử lý trong mối tương quan với các Chân Lý của Đạo Chúa Kitô – mối tương quan tự nhiên và xét cho cùng là tương quan duy nhất có hiệu lực – thì chúng sẽ mất đi số phận vĩnh cửu cao cả hơn của chúng. Chúng sẽ chỉ có ý nghĩa giới hạn trong trần thế này mà thôi. Chúng sẽ bị lệ thuộc vào những mục tiêu trần thế (RV 1861, S. 246).
24. Người đời cho rằng Thiên Chúa chỉ liên quan đến thế giới tâm linh. Họ cũng tin mình có thể xếp đặt mọi lãnh vực trần thế này, như đời sống xã hội chẳng hạn, theo phương tiện và khả năng của mình. Lối suy nghĩ ấy đưa tới hậu quả là con người đặt cho mình những mục tiêu nhân loại và có những nỗ lực ngông cuồng hẳn không chỉ làm cho họ mất linh hồn mà còn mất hết mọi thứ họ muốn đạt được (VK 1857. S. 87).
25. Một khi đã nói, đã nghĩ, đã thầm tin rằng ta có thể tìm thấy mục đích tối hậu của đời người trên trần gian, thì đời ta sẽ chẳng còn lệ thuộc Kitô giáo như trước nữa. Cuộc sống tốt đẹp của riêng mình, rốt cuộc được coi là tối quan trọng đối với mỗi người, sẽ là đích điểm duy nhất mà người ta hết sức đạt cho bằng được. Người ta không cần thắc mắc về phương tiện dùng để đạt cho được mục tiêu duy nhất ấy. Trong tình huống như thế chỉ những kẻ ngây ngô mới thắc mắc về những phương thế họ đang dùng khi có thể chắc chắn hay ít ra khá tin chắc rằng những phương thế đó sẽ giúp họ đạt được mục đích. Do đó mối quan tâm về chính mình và lợi ích của riêng mình sẽ vượt xa mọi mối quan tâm, ngay cả đối với người hàng xóm thân cận nhất, vì chẳng có và không thể có mục đích nào cao hơn chính bản thân họ (RV 1860, S. 772).
26. Khi lương tâm tôn giáo bị rối loạn thì con người cũng đánh mất các tiêu chuẩn đạo đức của mình. Khi người ta không còn biết đâu là chân lý chắc chắn nữa thì hậu quả sẽ là phá hủy một số luật lệ căn bản mà con người phải tuyệt đối tuân thủ, vì những luật ấy có liên hệ mật thiết nhất với chân lý vĩnh cửu (RV 1860, S. 779).
27. Vô tôn giáo thường có nghĩa là chống tôn giáo trong mọi cấu trúc nhân loại. Muốn giải quyết vấn đề xã hội, nếu đó là chuyện có thể làm được ở đời này, thì trước tiên cần làm chứng cho tôn giáo và quan tâm đến tôn giáo (tức Kitô giáo trong trường hợp chúng ta đang nói). Vì chỉ có một giáo hội tích cực và mạnh mẽ mới có thể làm được điều đó nên chúng ta không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận đạo Công giáo truyền thống và tốt đẹp của chúng ta như một khởi điểm, một nền tảng hay nguồn mạch cho tất cả mọi dấn thân xã hội của chúng ta. Chúng ta phải mạnh mẽ gắn bó với niềm tin của mình, bất chấp mọi tấn công từ đối phương, bất chấp mọi mưu toan chụp mũ chúng ta là «độc quyền cực đoan» hay bất kỳ chuyện vớ vẩn nào khác (MV 1863, H.1, Sp.2).
28. Trong Kitô giáo không hề có sự khoan nhượng giữa thiện và ác (FS 1852, S. 117).
29. Thật đơn giản là không bình thường khi những tinh thần cơ bản khác nhau và phân hoá một cách sâu xa lại có thể chấp nhận lẫn nhau và cùng tồn tại trong thế giới này cũng như có thể đứng biệt lập trong vấn đề của mình. Rốt cuộc không có những lãnh vực biệt lập với nhau. Không có một thế giới thuần chính trị và một thế giới thuần tôn giáo, cũng như trong cuộc sống thực tế thân xác con người không thể… tách biệt khỏi linh hồn. Người sống lý trí cố gắng loại trừ phần tâm linh và ngược lại người thiên về tâm linh cố gắng sử dụng lý trí theo mục đích riêng của mình. Người ta có thể thấy loại tương quan đó khắp mọi nơi vì cùng dựa trên những điều kiện tự nhiên giống nhau. Kitô giáo, do bản chất và công việc của mình, cần phải cố gắng làm chủ mọi mối tương quan đời và đạo, đồng thời hướng chúng theo những lề luật của mình bất kể là dùng những phương tiện trần thế hay tôn giáo. Tuy nhiên những tinh thần ngoài Kitô giáo, phủ nhận và tự giải thoát khỏi Kitô giáo, cũng có những nỗ lực tương tự tùy khả năng và theo cách thế riêng của họ. Vì cả khi những phong trào này có nền tảng trần thế, chúng cũng không thể giới hạn ảnh hưởng của chúng vào những vấn đề thế tục, mà cần phải mở rộng quyền lực vào những địa hạt tôn giáo và tinh thần nữa. Do bản chất, những tinh thần này tấn công và chinh phục biểu hiện Kitô giáo trong đời sống tôn giáo, nghĩa là tấn công Giáo Hội. Chúng không thể có được bình an và không đứng trung lập, vì tự bản chất chúng hoạt động hoặc cho Thiên Chuá hoặc chống lại Ngài. Những khía cạnh tinh thần và tôn giáo của trần thế không bị giới hạn và gò bó trong chốn vô hình, nhưng còn được tỏ hiện trong mọi cơ chế và tương quan con người. Bằng chứng cho điều ấy là thái độ của từng cá nhân, cuộc sống gia đình, công việc của Hội Thánh hoặc cả những vấn đề quốc gia nữa. Tất cả đều chứng tỏ là chúng cùng chịu ảnh hưởng chung vì cùng dựa trên một nền tảng. Như vậy chỉ có tầm vóc của chúng là có thể khác nhau mà thôi (RV 1860, S. 19).
30. Ở đâu không có đức tin, ở đó tình yêu Kitô giáo sẽ biến mất. Nhưng ở đâu thiếu vắng tình yêu thì nơi đó không còn có ân sủng, không thể có an bình vì sự xấu đã ngự trị. Hầu như mọi sự kiêu căng bất nhẫn và lòng tham vô độ đều có mặt và cố hết sức ngự trị ở đó (RV 1861, S. 89).
Chương 3
Hội Thánh Công Giáo
là một gia đình tuyệt hảo
1. Hội Thánh Công giáo là một gia đình tuyệt hảo (VO 1850, S. 6).
2. Ai không nhận Hội Thánh là một biểu hiện của đức tin thì kẻ ấy là kẻ thù của đức tin (KP 18.02.1848).
3. Chúa đã khiến cho Ý của Ngài được nhận biết và công việc cứu độ được thực hiện. Vì thế Lời Chúa nói và việc Ngài làm đã không bị gió cuốn đi đến nỗi ta phải cực khổ tìm kiếm mà cũng không gặp được. Không đâu, Chân lý của Thiên Chúa, Lời Chúa nói và việc Chúa làm thì bất biến, và bất kỳ ai mong muốn đều có thể có được Chân Lý. Thế giới, tự bản chất, cần phải có một Giáo Hội với quyền bính không thể sai lầm trong những vấn đề đức tin và cứu rỗi, cũng như là sự hiện diện của chính Thiên Chúa (RV 1859, S. 231).
4. Người ta có thể nhận ra một cộng đồng là Công giáo khi cộng đồng ấy là một gia đình. Và cộng đồng này càng giống gia đình bao nhiêu thì càng có tính Công giáo bấy nhiêu (VO 1850, Tr.61).
5. Hội Thánh không thể và không được xao nhãng, lẩn tránh vấn đề xã hội. Hội Thánh không thể bỏ mặc cuộc sống thường ngày cho những kẻ tự xưng hoặc bẩm sinh là kẻ thù của Hội Thánh. Hội Thánh phải hoàn toàn dấn thân nhập cuộc và không tránh né việc đấu tranh với địch thủ thù ghét mình (MV 1863, H 1. Sp.4).
6. Ngay kẻ điên rồ nhất cũng nhìn nhận rằng nếu không có quyền bính thì không thể có Hội Thánh và đời sống tôn giáo hùng mạnh được. Trong lãnh vực tôn giáo thì quyền bính ấy đặc biệt có nghĩa là quyền bính của Thiên Chúa (RV 1857. S. 27).
7. Hội Thánh Công Giáo càng hoàn hảo trong đời sống và trong giáo huấn của mình thì càng có sức thuyết phục hơn (VK 1854, S. 1217).
8. Đời sống Hội Thánh càng trong sáng và mạnh mẽ bao nhiêu, thì cuộc sống xã hội càng tươi sáng, sâu xa và mạnh mẽ bấy nhiêu (RV 1857, S. 10).
9. Nếu đời sống xã hội phải có tính tôn giáo hơn thì đời sống tôn giáo càng phải có tính xã hội hơn (RK 1849, S. 1).
10. Khi phải đi ăn xin chưa hẳn đó đã là thời kỳ tệ mạt đối với Giáo Hội. Sự khốn cùng và thiếu thốn đã tạo nên một sức mạnh trẻ trung khiến Giáo Hội có thể chinh phục được thế giới (RV 1855, S. 9).
11. Khi bị bách hại là lúc Hội Thánh đang chiến thắng (KS 2, S. 106).
12. Thiên Chúa cho con người sống trong thế giới này được quyền chọn lựa hoặc sử dụng tự do một cách khôn ngoan hoặc lạm dụng tự do ấy. Thiên Chúa không phá hủy thế giới ngay chỉ vì thấy có một số người không chấp nhận uy quyền của Ngài. Thiên Chúa ban mặt trời chiếu sáng trên cả người lành lẫn kẻ ác. Hội Thánh cũng phải làm như thế. Hội Thánh phải khoan dung, và trong một mức độ nào đó còn phải chấp nhận để cho có sự đối kháng. Hội Thánh không thể áp đặt vì Thiên Chúa không hề áp đặt. Lòng nhẫn nại và sức chịu đựng của Thiên Chúa cũng phải là lòng nhẫn nại và sức chịu đựng của Hội Thánh, cả khi có người trong Đạo phản nghịch cùng Hội Thánh. Tuy nhiên Hội Thánh hẳn không bao giờ ưng thuận chúc lành cho những điều và những cơ chế không do Thiên Chúa tạo nên và trái với lề luật của Ngài (RV 1859, S. 21).
13. Được là người Công giáo vui sướng biết bao. Người Công giáo biết rõ điều mình có; và người Công giáo đặt hy vọng vào điều mà loài người không thể đem lại (RV 1860, S. 397).
14. Chúng ta tin rằng một Hội Thánh vững mạnh, dựa trên những Chân Lý chắc chắn, không hề thay đổi do những ngẫu hứng, không phục vụ cho một chủ nhân trần gian, ; là một cái gai trong thân thể của những kẻ đã bị lung lạc và tuyệt vọng (RV 1858, S. 746).
15. Là người Công giáo có nghĩa là có một sức mạnh không thể triệt hạ vì sức mạnh ấy xuất phát từ Thiên Chúa (MV 1863, H.1, Sp.3).
16. Người Công giáo có thể và phải ước ao một điều là những Kitô hữu hiện đang xa cách có thể hợp lại trong sự nhận biết Chân Lý, hợp nhất trong Chân Lý toàn vẹn không bị cắt xén mà Thiên Chúa đã mạc khải và Hội Thánh đã tin (RV 1858, S. 810).
17. Triều Đại vĩnh cửu của Thiên Chúa trong Hội Thánh là tại trái đất này, ở đó là sự hiện diện hữu hình và sống động. Sự hiện diện ấy là để giúp cho con người hữu hình đi vào cõi vĩnh cửu thần linh của Thiên Chúa (KP 22.5.1846).
Chương 4
Đức tin được phản ánh nơi con người
và trong hoạt động của mỗi Kitô hữu
1. Đức tin được phản ánh nơi con người và trong hoạt động của mỗi Kitô hữu (RV 1854, S. 4).
2. Lòng kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của mọi điều chân lý (RV 1860, S. 286).
3. Sống Đạo Chúa cách tích cực là một sức mạnh tuyệt vời (RV 1854, S. 132).
4. Kitô giáo là cho toàn thể loài người trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Kitô giáo nhằm cứu thoát con người khỏi sự dữ, dạy con người làm lành và làm cho con người mạnh mẽ (RV 1863, S. 86).
5. Kitô giáo không phải là những lời nói hoa mỹ mà trống rỗng. Kitô giáo phải được thể hiện trong cách sống tích cực, dấn thân và hy sinh hầu người khác có thể nhận ra và có ảnh hưởng trên môi trường xung quanh (KS 1, S. 92).
6. Yêu mến Thiên Chúa hơn tất cả mọi sự là biết sẵn lòng vui vẻ từ bỏ cả những điều mình yêu thích, quí gía nhất trên đời, vì hẳn là chúng sẽ chen vào gây trở ngại cho sự nghĩa thiết của tâm hồn với Thiên Chúa. Người ấy thà bỏ mọi sự hơn là để lòng khát khao Thiên Chúa của mình bị cản trở (KP 18.2.1848).
7. Nếu ai chỉ làm việc vì cuộc sống trần gian chóng qua chứ không vì cuộc sống vĩnh cửu, hoặc ai coi cuộc sống chỉ có ý nghĩa giới hạn ở đời này chứ không mang ý nghĩa vĩnh cửu thì người ấy quả thực đã tự tách mình ra khỏi Đạo Kitô (RV 1858, S. 780).
8. Có nhiều người muốn làm điều tốt, nhưng hoặc không có khả năng hoặc không biết phải bắt đầu từ đâu. Chỉ cần một lời gợi ý nhỏ cũng đủ giúp những người ấy hướng về đường ngay nẻo chính. Đức Ái Kitô giáo đích thực – tức việc thể hiện Kitô giáo – là những yếu tố sống động bảo đảm cho mỗi người sự bình an hoan hỉ trong tâm hồn và phúc lành vững bền của Thiên Chúa trong gia đình (VK 1864, S. 47).
9. Đúng là Đạo không chỉ bao gồm những điều nhìn thấy bên ngoài, nhưng nếu ai không thể hiện Kitô giáo ra bên ngoài thì người ấy cũng không thực sự yêu mến Đạo sâu xa trong cõi lòng. Ta sẽ nói gì về một người bạn chỉ thỉnh thoảng mới nghĩ tới ta và chỉ đến thăm ta khi người đó đang chán nản hoặc chỉ muốn giết thời gian? Có nhiều người hẳn cũng xử sự với Thiên Chúa y như thế dẫu rằng Thiên Chúa tuyệt hảo hơn cả người bạn tốt nhất trên trần gian rất nhiều (KS 2, S. 61).
10. Nếu Lời Chúa nói và Công Việc Ngài làm là có thực và không thể sai lầm, thì mỗi người vẫn có thể tự do chọn lựa muốn hay không muốn thông dự vào Lời và Việc của Chúa. Con người không hề bị cưỡng ép nhưng vẫn luôn được tự do lựa chọn, có thể chấp nhận hay từ chối bất cứ khía cạnh nào của tôn giáo và luân lý. Đây là thứ tự do tín ngưỡng đích thực duy nhất theo nghĩa chặt chẽ nhất của từ ngữ. Tuy nhiên khi một người chấp nhận Lời Chúa nói và Việc Chúa làm, người đó chỉ có thể chấp nhận vì đó là Lời của Chúa và Việc của Chúa. Do đó, thật đơn giản để có thể hiểu được là người đó phải chấp nhận vô điều kiện ý Chúa và đi theo Chúa tới cùng. Người đó phải hoàn toàn phó thác vào Chúa. Đó chính là phải thể hiện sự tự do chọn lựa. Hoặc tất cả hoặc không gì hết! Qui phục hoàn toàn hoặc chống lại. Chắc chắn không thể có một khả năng thứ ba (RV 1859, S. 230).
11. Ở đâu thiếu sự thể hiện Đức Tin ra bên ngoài thì ở đó gốc rễ của Đức Tin sẽ bị khô héo đi trong tâm hồn của tội nhân bất hạnh (RV 1857, S. 110).
12. Nếu biết dấn thân hết mình với Đức Tin, người ấy hẳn sẽ được hạnh phúc trong Đức Tin (VO 1850, S. 30).
13. Kẻ nào chấp nhận Việc Chúa làm bằng con tim và trí óc cởi mở, người đó sẽ không bao giờ cảm thấy nhàm chán và vô ích (RV 1864, S. 36).
14. Lòng tin chân chính luôn khiêm nhường tự hạ (RV 1857, S. 263).
15. Sự cuồng tín còn tệ hại hơn cả tội lỗi công khai, và rốt cuộc còn tác hại hơn sự vô thần. Không có gì thù nghịch với lòng đạo chân chính cho bằng sự cuồng tín, vì kẻ thù công khai thì ít nguy hiểm hơn người bạn giả dối (RK 1850, S. 11).
16. Những người sống Đức Tin một cách mù quáng cũng nhiều không kém những người lương thiện và nghiêm túc muốn tiến về Nước Trời. Nhưng rất, rất nhiều người sống Đức Tin một cách mù quáng có chung một khuyết điểm là: họ tuyệt đối chắc chắn rằng lối đạo đức của mình mới là đạo đức thật và như thế mới là đạo đức. Người tín hữu buồn rầu thì cứ muốn mọi người phải có khuôn mặt nghiêm nghị như mình; người cảm thấy hạnh phúc lại muốn mọi người phải tỏ ra vui tươi. Kẻ tâm lượng hẹp hòi và hay sợ hãi lại muốn mọi người đều phải rõ ràng và chính xác trong mọi hoạt động, đồng thời hay phán đoán mọi người theo tham vọng của mình. Có người chỉ chú trọng đến kinh nguyện; có người chỉ nhắm đến việc sống cho công bình; có người cổ võ cho chiều kích tâm linh; có người lại chủ trương phải có những hoạt động và việc làm cụ thể. Tất cả những cách sống đạo ấy đều chưa phải là chân thành và không nên sống như thế, vì sống như thế là chưa bao dung chấp nhận những gì Chúa dựng nên hoặc những gì mà ngay cả Chúa cũng không can thiệp vào. Chúng ta hãy để mọi người sống theo Niềm Tin của họ, còn chúng ta hãy làm sao bảo đảm rằng mình đã sống Niềm Tin của mình hoàn hảo hết sức có thể. Chỉ có Thiên Chúa mới biết ai là người tốt nhất vì Ngài biết tận tâm can mỗi người. Và cách con người biểu lộ Niềm Tin của mình thì thường ít quan trọng hơn cả khi người ta sống Đức Tin. Công trình sáng tạo của Thiên Chúa thật là tốt đẹp, chính vì Ngài đã tạo nên muôn loài thật đa hình đa dạng (RK 1850, S. 4).
17. Lòng kính sợ Thiên Chúa đích thực có nghĩa là sống theo ý Chúa và noi gương Chúa hết lòng. Vâng, những việc đạo đức như cầu nguyện, nhận lãnh các bí tích v. v… xét cho cùng cũng chỉ nhằm mục đích đưa chúng ta đến gần Thiên Chúa hơn, để hình ảnh của Chúa càng lúc càng sáng tỏ rõ nét nơi chúng ta. Nếu người ta không đạt được mục đích trên hoặc ngay cả không nghiêm túc nỗ lực hướng về nó, thì mọi việc thực hành tôn giáo chẳng giúp được gì nhiều nếu không phải là hoàn toàn vô bổ. Những việc ấy lại rõ ràng có hại nếu người ta dễ coi các phương tiện ấy như là cùng đích, cho nên làm vài việc đạo đức đã cho là đủ và không màng ra sức trở nên giống Chúa. Lòng mộ đạo rồi sẽ biến thành cuồng tín dẫn đến sự giả hình. Sự giả hình sẽ rất dễ dàng kèm theo tính tự phụ thiêng liêng mà đối với Thiên Chúa, chắc chắn đó là điều đáng ghét nhất trong những điều đáng ghét (RV 1856, S. 214).
18. Hãy yêu mến Chúa hết lòng, hết sức. Không có tình yêu này thì chẳng có hạnh phúc; và ngay cả vẻ đẹp quyến rũ nhất trần gian nếu không có tình yêu Thiên Chúa cũng chỉ là sự khốn cùng đầy quyến rũ (KS 2, S. 63).
19. Nếu bạn sống trong bình an với Thiên Chúa, và cảm thấy tốt đẹp, bạn có thể thực sự cảm thấy rất hạnh phúc. Nếu bạn sống trong bình an với Thiên Chúa và cảm thấy thể xác không được khỏe mạnh, bạn sẽ không bị tuyệt vọng và luôn có thể có niềm hi vọng mới (RV 1858, S. 4).
20. Tôn giáo làm ta an bình, và cả mãn nguyện cùng vui tươi. Những cảm giác đó hoàn toàn hợp với tính nghiêm túc của tôn giáo (KS 1, S. 185).
21. Chỉ khi nào chúng ta chấp nhận việc của Con Thiên Chúa như là việc của chính mình và hoàn toàn sẵn sàng bảo vệ đức tin – ngay cả việc đương đầu với kẻ đối địch – thì chúng ta mới có thể thực sự trông chờ Chúa Giáng Sinh (RV 1859, S. 822).
22. Chúng ta hiểu Kitô giáo là phục vụ tích cực cũng như là công việc cứu độ, do đó chúng ta dựa vào sức mạnh chiến thắng của Kitô giáo và coi Kitô giáo như là nghĩa vụ của chúng ta phải phụng sự bởi sức mạnh thánh thiêng này (FS 1851, S. 27).
23. Chết trong bình an đòi hỏi con người ý thức rằng mình đã ăn ngay ở lành, đã cố gắng hết sức mình (KS 2, S. 213).
24. Nếu chúng ta tín thác vào Thiên Chúa và vui vẻ chấp nhận những gì Ngài muốn chúng ta làm, chúng ta có thể tin chắc rằng Chúa nhân từ sẽ an bài mọi sự cách tốt đẹp (KS 2, S. 213).
25. Nếu không học biết nhìn đường đời nhân thế như là hồng ân Thiên Chúa và cố gắng phán đoán chúng từ trên cao, thì chúng sẽ như một mê cung trước mắt chúng ta. Thay vì an tâm thoải mái trước mọi sự, tâm hồn chúng ta chỉ tự dằn vặt mình và tự làm cho mình bất hạnh mà thôi (KS 2, S. 156).
26. Thà làm một kẻ điên trên trần thế còn hơn tự cho mình là kẻ có giáo dục, biết hết mọi sự, thông hiểu và nói được mọi vấn đề. Nhưng trước nhan Thiên Chúa, người ấy sẽ chẳng là gì nếu không hiểu biết về vấn đề quan trọng đích thực (KT.1858, S. 235).
27. Nhìn cuộc sống và những bổn phận của một người bằng cái nhìn tôn giáo, tức dưới ánh sáng Đức Tin, thì sẽ thấy mọi sự khác hẳn với khi nhìn chúng bằng đôi mắt thuần túy trần thế. Một vài điều sẽ mất giá cách thảm hại, dù có người đề cao chúng. Một số điều khác có thể trở thành vô giá dù trước đó người ta chẳng bao giờ lưu tâm đến. Đương nhiên, đó chính là và sẽ mãi là điều quan trọng sống còn cho chính cuộc sống và cho việc sử dụng các sự vật trên thực tế (RV 1855, S. 98).
28. Viễn ảnh về một vụ làm ăn hay lợi tức vật chất có thể khiến người ta bất chấp mọi cố gắng và đau khổ, khiến. người ta chấp nhận sự khó chịu và rắc rối đến mức dường như vượt quá sức chịu đựng của con người. Và mọi người đều cho rằng đó là chuyện đương nhiên và chẳng có gì đáng nói. Nhưng khi có ai không theo cách sống thông thường để tìm kiếm Nước Thiên Chúa và thực hiện một điều gì «khác lạ» cho Con Một Ngài, thì thiên hạ liền ầm ỹ lên ngay. Có kẻ cho người đó là «bốc đồng» hoặc «dở hơi điên khùng», hoặc còn hơn thế, dường như mọi người đều cho là «giả hình». Sở dĩ có những phản ứng ấy vì có những người không tài nào hiểu được rằng phần thưởng «đời sau» cũng đáng để chịu sự đâm thọc (RV 1863, S. 438).
29. Người theo chủ nghĩa nhân văn chỉ nghĩ đến cuộc đời này và về chính mình; người đó bị tư lợi dẫn dắt. Còn người Kitô hữu được hướng dẫn bởi điều cao cả hơn và biết hy sinh từ bỏ để đạt được điều tốt hơn. Hướng về thế giới mai sau làm cho người Kitô hữu không còn coi bản thân và lợi ích cá nhân là quan trọng. Người Kitô hữu hành động vì lợi ích chung và đó sẽ là phần thưởng đặc biệt dành cho họ (KS 2, S. 15).
30. Một khi không còn hết lòng tin tưởng vào Thiên Đàng thì người ta cũng không còn tin vào hỏa ngục nữa, ít là ngoài môi miệng. Xét cho cùng, hỏa ngục thì quá sức nóng nực và khó chịu kinh khủng. Nên người ta thích đặt trọn Niềm Tin vào cuộc sống này hơn. Tự bản tính con người phải tin vào một điều gì đó, dù có thích hay không. Và nếu người ta không muốn tin vào những điều chân chính, thì sẽ phải tin vào những sự tệ hại. Nhưng nếu có điều gì hợp với lòng mình, người ta chỉ còn biết rất sẵn lòng bỏ thời giờ cho chuyện ấy. Do đó, chính con tim mới khiến cho đầu óc hành động vì lợi ích của mình (RV 1857, S. 107f).
31. Nếu một người mất Đức Tin vào Chúa, người ấy buộc phải bám vào thế giới này và chụp lấy bất cứ điều gì chụp được. Nếu không còn kính sợ Chúa, người ấy chẳng còn sợ gì nữa: chẳng sợ phán xét lẫn án phạt, chẳng sợ hỏa ngục lẫn đời đời (RV 1856, S. 677).
32. Người ơi, đừng vội vã! Dù có làm được đường xe lửa hay mắc được điện khắp cả thế giới, dù có tìm cách xoay chuyển trục Bắc Nam của địa cầu, dù có thủy điện hay nhiệt điện, bạn sẽ chẳng nhích thêm được bước nào về hướng Thiên Đàng. Và tất cả cổ phần của thị trường chứng khoán cũng chẳng đáng một xu trước cửa Thiên Đàng (RV 1856, S. 234).
33. Chúng tôi hoàn toàn xác tín rằng chẳng đáng gì phải cố gắng dùng cuộc đời ngắn ngủi của mình để tích luỹ những thứ linh tinh, và hết sức tích cực chạy theo của cải đời này thì thật là khờ khạo (RV 1856, S. 204).
34. Từ bỏ mình là nguyên tắc giáo dục chủ yếu trong đời sống Kitô hữu. Nếu không từ bỏ mình, cuộc sống không thể nào trưởng thành và phát triển được (RV 1859, S. 756).
35. Người nào càng mạnh mẽ chống trả và càng bền bỉ chịu đựng những cuộc tấn công của sự dữ thì sự dữ sẽ càng ít quấy rầy và người ấy sẽ có nhiều thời gian làm việc lành hơn (VK 1853, S. 85).
36. Chẳng có gì xảy ra mà không thể trở thành ơn phúc, ích lợi cho đời này và đời sau. Điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào cách chúng ta xử trí các sự việc ấy (RV 1862, S. 5).
37. Hãy nhìn mọi sự như là dấu chỉ của Thiên Chúa là Đấng khôn ngoan hướng dẫn chúng ta trong mọi sự vào từng thời điểm. Những khi ý Chúa và ý chúng ta giống nhau, chúng ta nên tạ ơn Ngài. Khi mà ý Chúa khác với ý chúng ta, chúng ta nên theo ý Ngài như một người con biết khiêm nhường và vâng phục cha mình (KS 2, S. 154f).
38. Thiên Chúa nhân từ vô cùng với kẻ lầm lạc, nhưng Ngài thường dùng những cách thế tuyệt diệu và nhiệm mầu để đưa người đó hối cải quay về. Vì vậy, Thiên Chúa tỏ ra nhân từ thế nào, chúng ta cũng nên sống như thế (RV 1858, S. 466).
39. Ý Chúa là điều tốt nhất cho chúng ta, cả đôi khi thánh ý Ngài làm cho chúng ta đau đớn (KS 2, S. 473).
40. Chỉ có thể đạt được niềm vui chân thực bằng Thập Giá và đau khổ, nghĩa là khi con người đã học biết hay bắt đầu học biết chia sẻ Thập giá và đau khổ với Thiên Chúa (RV 1858, S. 505).
41. Cuộc sống chỉ có ý nghĩa và giá trị, bình an và hòa giải khi chúng ta biết trân trọng ý nghĩa và giá trị của đau khổ theo tinh thần đạo giáo (KS 2, S. 149).
42. Tôi coi đau khổ trong cuộc sống có giá trị cao xa hơn hạnh phúc, danh tiếng… bề ngoài. Đau khổ làm cho tôi dịu dàng hơn và dạy tôi biết cảm thông, do đó: hãy tạ ơn Chúa vì đã phải khổ đau (KS 2, S. 149).
43. Cuộc đời không thể không có đau khổ. Phần tôi, tôi không mong ước thoát khỏi đau khổ, vì không gì có thể mở rộng tâm hồn ta đón nhận những ảnh hưởng cao cả và chỉ hướng ta về Đấng Thiên Chúa luôn hiện diện hơn là đau khổ. Thật ra chúng ta không phải tìm kiếm đau khổ; nhưng chúng ta nên chấp nhận điều chúng ta gặp và sử dụng nó theo tinh thần Kitô giáo (KS 2, S. 60).
44. Dù đôi khi những áp lực hằng ngày có lớn lao đi nữa, người ta cũng cần phải chịu đựng chúng. Cuộc sống là áp lực, công việc, đau khổ và lo lắng, và chỉ ở trên trời mới có được sự bình an (KS 2, S. 429).
45. Kitô giáo cho chúng ta biết rằng tất cả những ai đã dùng cuộc sống mình làm việc cho phần rỗi của người khác sẽ thấy mình được hiệp nhất lại trong một thế giới khác, nơi họ được bao bọc bởi mối dây thân ái vững bền của tất cả con cái Chúa. Đó không phải là một ý tưởng diệu kỳ sao? Đó là niềm an ủi lớn nhất đối với chúng ta khi nghĩ đến những người thân đã khuất (RV 1858, S. 536).
46. Mỗi khi có một người thân yêu qua đời, ta cảm nhận nỗi đau chia lìa, cảm giác tang tóc như vây kín chúng ta hơn; hầu như ta có cảm giác chạm vào một thế giới khác. Tuy nhiên ta có ý thức chắc chắn rằng người thân của chúng ta đang yên nghỉ với Chúa, bởi thế họ rất gần gũi với chúng ta và đang cầu bầu cho chúng ta. Đó là mối dây thiêng liêng liên kết tất cả chúng ta một cách chặt chẽ hơn. Những người thân đó đang chờ đợi chúng ta trong Vinh Quang cho tới khi chúng ta được tham dự vào cộng đồng ân phước và vĩnh cửu. Chúng ta cùng cầu nguyện cho họ và họ cầu nguyện cho chúng ta, cho đến khi tất cả khổ đau qua đi. Ý thức điều ấy là một niềm an ủi lớn lao giúp chúng ta vượt qua nỗi buồn phiền khi người thân của chúng ta qua đời (KS 2, S. 374).
47. Ước chi con người có thể chờ đợi và chịu đựng cho tới thời gian phải đến! Điều gì chưa được sáng tỏ trên trần thế sẽ hoàn toàn được hiểu rõ nơi thế giới bên kia. Những ai ngắm nhìn ý định và mục đích của Thiên Chúa bằng đôi mắt vĩnh cửu, họ sẽ thấy rõ cách Thiên Chúa an bài mọi sự tốt đẹp biết bao (VK 1863, S. 22).
48. Dù sao cũng không có ơn cứu độ nào khác ngoài ơn cứu độ nhờ Thập giá. Một vĩ nhân đã nói điều đó và chân lý ấy là điều chắc chắn, miễn là chúng ta tin vào chân lý của Kitô giáo và tin có sự sống đời sau (KS 11, S. 14).
Chương 5
Thiên Chúa sẽ không bao giờ
để kẻ tin cậy Ngài phải thất vọng
1. Thiên Chúa sẽ không bao giờ để cho kẻ tin vào Ngài phải thất vọng, và nếu Thiên Chúa trợ giúp thì điều tốt lành sẽ đến dù con người có thế nào đi nữa. Nhưng Thiên Chúa không giúp hoặc muốn biết ai chỉ tin tưởng vào chính mình; và các phương thế thuần túy con người sẽ không giúp người ấy được bao nhiêu (RV 1854, S. 79).
2. Bao lâu có cánh tay Thiên Chúa phù trợ thì con người không bao giờ hoàn toàn cô đơn lạc lối. Và cánh tay của Thiên Chúa có thể vươn xa hơn người ta tưởng nhiều (VK 1857, S. 94).
3. Mọi điều thực sự thiện hảo không chỉ đòi hỏi công sức, mồ hôi, hy sinh và sự cố gắng mà còn cần sự trợ giúp của Thiên Chúa nữa. Nếu không, sẽ chẳng đi đến đâu (KS 2, S. 202).
4. Dù Thiên Chúa nhân lành có gửi thử thách đến cho chúng ta nhưng Ngài cũng giúp chúng ta vượt qua thử thách ấy và tránh được điều xấu (KS 2, S. 252f).
5. Chúa luôn sẵn sàng ban phúc lành nếu như chúng ta xứng đáng với phúc lành đó, nghĩa là nếu gần như chúng ta kéo được phúc lành từ trời xuống (FS 1854, S. 1).
6. Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn với người lữ khách trần gian. Dù người ta có lầm đường lạc lối, thì cuối cùng Thiên Chúa vẫn dẫn đưa người ấy về nẻo chính hầu đến nơi Quê Thật, miễn người ấy không quên cầu nguyện cả trong chốn «hoang địa» (VK 1857, S. 106).
7. Tốt nhất là hoàn toàn tùy thuộc vào Chúa hơn là dựa vào trí khôn, tài năng cá nhân và khí giới, là những thứ sẽ bị tiêu vong trong cơn giận của Chúa (RV 1860, S. 42).
8. Nếu làm việc lành vì lòng tin, ta sẽ được tăng thêm lòng can đảm, vì lòng can đảm lớn lên với tâm hồn và tâm hồn lớn lên theo mỗi việc lành ta làm (VK 1852, S. 30).
9. Khi tín thác vào ơn Chúa là Đấng dùng sự yếu hèn để hoàn thành sứ mạng vinh quang của Ngài, chúng ta vững tâm bước vào vườn nho của Thiên Chúa hầu bắt đầu công việc hằng ngày của chúng ta vì Danh Ngài (KS 2, S. 94).
10. Nếu chúng ta làm hết sức và hết khả năng mình thì Thiên Chúa sẽ sẵn sàng chúc phúc cho những việc lành ta làm (RV 1857, S. 725).
11. Thiên Chúa luôn hỗ trợ miễn là con người sẵn lòng đảm nhận những nghĩa vụ cần thiết (RV 1864, S. 364).
12. Hãy can đảm, cả khi nhiệm vụ trước mắt tưởng như không thể vượt qua nổi. Thiên Chúa uy hùng, Đấng đã dựng nên dãy núi An-pơ cao ngất và những đại dương bao la trên thế giới, và cũng đã dẫn chúng ta đến những con đường vượt núi. Thiên Chúa đã làm cho gỗ đủ nhẹ bập bềnh trên sóng nước và Ngài cũng tạo ra gió để chúng ta có thể căng buồm phiêu du vòng quanh thế giới (KS 2, S. 23).
13. Ta phải bình tĩnh tiếp cận những khó khăn và dũng cảm giải quyết. Thiên Chúa luôn phù trợ những ai sẵn lòng (RV 1855, S. 512).
14. Thiên Chúa sẽ luôn giúp đỡ những ai thành tâm để ý đến những điều ngay chính (RV 1855, S. 520).
15. Thiên Chúa giúp sức cho tất cả những người thành tâm muốn điều thiện hảo (FS 1852, S. 107).
16. Thiên Chúa giúp sức cho những ai sẵn lòng miễn là họ can đảm bền chí (RV 1856, S. 5).
17. Bao lâu chúng ta sáng suốt và can đảm chu toàn nhiệm vụ của mình, chắc chắn Thiên Chúa sẽ trợ giúp chúng ta. Chúng ta được hiệp nhất khi tin vào Thiên Chúa và thực hiện công việc của mình. Còn những ai không tự giúp mình thì không xứng đáng được người khác giúp đỡ (FS 1852, S. 3).
18. Tôi muốn trông cậy và tín thác vào Thiên Chúa là Đấng không bao giờ từ chối gia ân giúp đỡ những người thiện tâm (KS 2, S. 63).
19. Nếu chúng ta biết can đảm và tín thác vào Thiên Chúa thì chẳng gì có thể làm hại chúng ta được (KS 2, S. 192).
20. Tôi hoàn toàn xác tín từng chữ rằng không một sợi tóc nào trên đầu chúng ta rơi xuống mà không do ý Cha trên trời. Vì thế lòng tin của tôi vào sức mạnh của lời cầu nguyện hẳn là có vẻ như hơi có tính cách cá nhân một chút. Lời cầu nguyện của tôi thường rất ngắn gọn và đi vào trọng điểm, khi tôi có thể tự mình thực hiện điều mà mình cho là chính đáng và đáng làm. Tôi đặt những việc phải làm vào trong tay Chúa, nếu xuôi chèo mát mái thì tốt; nếu thất bại thì tôi sẽ bắt đầu lại; còn nếu Chúa không muốn thì cũng tốt thôi, vì Thiên Chúa không muốn thì cũng không cần phải thắc mắc gì thêm. Có những lúc tôi không thể tự mình làm điều gì, như giúp những ngươì thân yêu bớt buồn khổ, thì tôi cầu nguyện hầu như liên lỉ. Kinh nghiệm cá nhân đã dạy tôi biết sức mạnh vô song của lời cầu nguyện (KS 2, S. 299).
21. Dù khi lòng trí lầm lạc đến đâu thì một lời cầu nguyện thành khẩn vẫn không vô ích (RV 1863, S. 4).
22. Thiên Chúa chỉ lắng nghe những lời nguyện cầu chân thành. Lời cầu xin bằng môi bằng miệng của kẻ giả hình sẽ chống lại chính người ấy (RV 1859, S. 5).
23. Tôi luôn làm được nhiều việc hơn với lời cầu nguyện; tuy không được như ý nhưng vẫn hơn bất cứ những nỗ lực và lo lắng nào của con người (KS 2, S. 286).
24. Kinh nghiệm cá nhân của hầu hết chúng ta cho thấy rằng lời cầu nguyện xua tan niềm cay đắng. Khi đã cầu nguyện cho nhau thì không lẽ nào lại có thể ghét nhau hay xâu xé lẫn nhau (RV 1861, S. 277).
25. Lời cầu nguyện làm giảm bớt khổ đau; lời cầu nguyện ủi an và giải hòa; lời cầu nguyện làm hồi sinh niềm hi vọng là chúng ta sẽ gặp lại những người thân yêu của mình. Đặc biệt lời cầu nguyện cho những người thân đã qua đời giúp chúng ta có sức mạnh để hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt (KS 2, S. 460).
26. Tôi hoàn toàn xác tín rằng, vâng, đó là niềm tin vững chắc của tôi, trong những vấn đề của thế giới, đọc Kinh Lạy Cha cách sốt sáng thì cũng ngang bằng với sự thông minh của những người trí thức (RV 1859, S. 11).
27. Thiên Chúa là và vẫn mãi là Chúa Tể của thế giới và là Đấng Bảo Vệ Dân riêng Ngài. Người ta không thể la to điều ấy cho đủ lớn vào tâm hồn nhút nhát của con người, để có thể khiến họ tự tin hơn mà trung thành với điều ngay chính (RV 1860, S. 179).
28. Ước mong cho ai được hạnh phúc cũng là một lời cầu nguyện. Đó là lời nguyện cầu với Đấng định đoạt tương lai cho những người thân yêu của chúng ta được hạnh phúc (RV 1859, S. 4).
29. Hãy thường xuyên cầu nguyện dù chỉ trong chốc lát, nhưng hãy cầu nguyện hết lòng để Cha Sự Sáng ban cho bạn trí minh mẫn và sức mạnh và để bàn tay quyền năng Ngài có thể dẫn dắt bạn suốt mọi ngày trong đời bạn (KS 2, S. 26).
30. Nếu Thiên Chúa mời gọi chúng ta nên thánh, nếu sự thánh thiện là cần thiết để chúng ta được mãn nguyện trên trần gian và hoan lạc trong chốn vĩnh cửu, thì tại sao chúng ta không nên thánh? (RV 1858, S. 309).
31. Châm ngôn của chúng ta là cầu nguyện, học tập và làm việc cách nghiêm túc mà vui tươi (KP 27.8.1847).
32. Chỉ có người Kitô hữu dấn thân mới được hưởng an nhàn và luôn hạnh phúc (MV 1863, H.1, Sp.42).
Chương 6
Thiên Chúa tạo dựng con người
giống hình ảnh Ngài
1. Thiên Chúa tạo dựng con người và đã ban cho con người một cùng đích, vì Ngài không tạo nên điều gì vô ích hoặc vô lý. Thiên Chúa không sáng tạo cách may rủi hoặc không có kế hoạch (RV 1859, S. 737).
2. Nếu Thiên Chúa đã tạo nên con người thì Ngài đã tạo dựng con người «linh ư vạn vật», nghĩa là con người khác với cỏ cây, loài vật: điều mà một kẻ nông dân chân lấm tay bùn lại hiểu rõ hơn là một nhà bác học chẳng hiểu được bao nhiêu. Nhưng con người sẽ không nhận ra sự khác biệt này nếu chính Chúa, Đấng tạo nên con người, không bảo cho biết sự khác biệt ấy là gì. . Con bò không tự biết mình là con bò. Nó không nhất thiết phải biết, tuy vậy nó vẫn là một con bò hoàn hảo; vì Chúa xét điều ấy theo bản tính. Nhưng với con người thì khác: con người cần phải biết mình là gì để có thể phát triển thành điều mình phải là (RV 1854, S. 420).
3. Linh hồn con người vừa là chủ nhân vừa là cái chuyển tải sự sống. Vì thế linh hồn cần được hết sức quan tâm. Linh hồn là nền tảng cho mọi hoạt động con người cả về thể chất lẫn tinh thần. Dù đời sống và công việc của con người có cùng đích nào đi nữa, thì vẫn mang tính con người vì là biểu hiện của linh hồn (RV 1858, S. 765).
4. Mọi sự sống trên trần thế đều cần đến ánh sáng, không gì có thể phát triển nếu không có ánh sáng và hơi ấm. Cũng vậy, nếu không có chân lý thánh thiện, không có ánh sáng xuất phát từ Thiên Chúa hoặc không có hơi ấm của lòng nhân lành và tình yêu của Ngài thì linh hồn không thể sống được (KP 18.2.1848).
5. Này người bạn Kitô hữu của tôi, dù bạn là ai bạn cũng hãy nhớ lấy cùng đích đời mình. Hãy dừng lại giây lát trên đường đời thênh thang; hãy nhớ lấy cùng đích của bạn; hãy nhìn về nơi bạn đang đến; hãy quay nhìn lại nơi bạn xuất phát; hãy nhìn vào mình để xem có vấn đề gì với bạn không, xem bạn là ai, bạn nên làm gì và bạn muốn làm gì? (KP 26.2.1846).
6. Tôn giáo, sự sống của linh hồn, là quà tặng của Thiên Chúa. Đó là nhu cầu thiết yếu của linh hồn con người và là hồng ân của lòng thương xót. Nó thâm nhập sâu xa vào linh hồn con người và làm phong phú linh hồn qua sự hiện hữu nhiệm mầu của nó. Nó cai quản toàn thể con người, lèo lái và hướng dẫn con người. Vì tôn giáo phát xuất từ Thiên Chúa, là chính Chúa, nên muốn và phải cai quản con người, chứ không phải con người có trách nhiệm cai quản tôn giáo. Khi tôn giáo thống trị con người, điều khiển các hoạt động con người qua đầu não đích thực là chính linh hồn, thì chỉ có thể làm cho cuộc sống và công việc của con người trở nên chân chính và có tính nhân văn đích thực (RV 1858, S. 765).
7. Tôn giáo là sức mạnh giúp ta thành con người đích thực (FS 1851, S. 66).
8. Trước hết tôi tìm cách sống cho ra ngưòi, học biết cứu cánh phù hợp với loài người; học nhận biết và chu toàn những nghĩa vụ làm người nhằm giúp con người biết sống với anh em mình và chăm sóc họ. Thứ đến khi tôi đã tìm ra con đường dẫn đến hoàn thiện, tôi sẽ cứ thế mà vững bước. Tôi sẽ gìn giữ và bảo vệ chân lý mà tôi đã nhận biết, sẽ công khai thú nhận tình trạng linh hồn mình. Tôi sẽ làm chứng cho chân lý và là người anh em của người quanh tôi. Tôi sẽ cố hài lòng với ý nghĩ rằng tôi đã chu toàn mọi bổn phận bằng nỗ lực trong hoàn cảnh của tôi. Nếu không được như thế, tôi chẳng có thể được mãn nguyện thực sự và bình an (KS 1, S. 50).
9. Linh hồn phát xuất từ Thiên Chúa và được tiền định hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa. Đó là chân lý căn bản đầu tiên của toàn bộ đời sống con người, đồng thời là ý nghĩa và mục đích chân chính của đời người (FS 1851, S. 151).
10. Trong toàn thể thế giới hữu hình, con người cao cả và đáng trọng nhất (RV 1859, S. 709).
11. Con người thế nào thì Kitô giáo chấp nhận họ như thế và Kitô giáo biến đổi họ thành người mà họ phải trở thành (RV 1859, S. 755).
12. Không ai lại không yêu; và chẳng có bao giờ có người không yêu, vì tình yêu là một phần tạo nên con người. Giống như trí khôn không đương nhiên nhận biết chân lý Kitô giáo nhưng lại cần chân lý đó, bởi thế tâm hồn không có tình yêu trừ phi Thiên Chúa trao ban và tâm hồn rộng mở đón nhận tình yêu đó (KP 20.3.1846).
13. Tôi sẽ cố gắng để đạt được sự hoàn thiện nhờ ơn Chúa, vì Đấng Cứu Độ cũng đã phán với tôi: Con hãy theo Ta (KS 1, S. 106).
14. Tự do đích thực của con người là ở sự vâng phục; sự nô lệ của con người là ở thứ tự do giả tạo trong đó vì phải phục vụ, nên con người phục vụ cái nó phải làm chủ và lại thống trị kẻ mình phải phục vụ (KP 3.4.1846).
15. Mục đích chính của đời sống chúng ta là cố gắng đạt cho được sự trọn lành Kitô giáo (RV 1855, S. 218).
16. Thiên Chúa đã chỉ ban cho con người một quyền đích thực duy nhất và không thể chối cãi: đó là sử dụng lý trí một cách đúng đắn. Theo tôi hiểu việc sử dụng lý trí là để lắng nghe và hiểu biết chân lý: chân lý tôn giáo. Một quyền bẩm sinh khác do Chúa ban cho là con người được tự do chấp nhận và thực hành những lời giáo huấn về chân lý của Thiên Chúa; một quyền cao xa hơn và vĩnh cửu là con người có khả năng làm cho ý mình hợp với ý Chúa, hợp với lòng nhân từ và sự công chính thánh thiện, vĩnh cửu của Chúa. Những quyền đích thực và không thể chối cãi ấy phát xuất từ Thiên Chúa và không có một cội nguồn nào khác. Vậy thì con người không có quyền gì đây? Đối với tôi, dường như con người không có quyền, và mãi mãi chẳng bao giờ có, làm bất cứ điều gì chống lại Thiên Chúa (RV 1865, S. 115).
17. Con người không sống trên đời để hưởng thụ nhưng để phục vụ, lao động và sáng tạo cho vinh danh Thiên Chúa và để đáp ứng nhu cầu của đồng loại (VK 1861, S. 3).
18. Phúc cho người chuẩn bị đón nhận phúc lành. Vì phúc lành tùy thuộc vào chính con người và nỗ lực riêng của từng người (KP 27.3.1846).
19. Điều cao quý và tuyệt hảo nhất trên đời mà con người có thể đạt được là lan tỏa niềm vui và hạnh phúc (VK 1859, S. 4).
20. Thiên Chúa đã ban cho chúng ta Lề Luật của Ngài, nhưng còn tùy chúng ta chọn lựa hoặc chấp nhận hoặc từ chối trật tự của Thiên Chúa để sống theo tiêu chuẩn riêng của chúng ta. Nơi thiên nhiên là sức mạnh thì nơi con người phải là muốn tuân phục. Đó là ý muốn của Thiên Chúa (KP 31.1.1848).
21. Nếu con người có tự do thì cần phải biết cách sử dụng tự do đó. Nếu con người được tự do hành động thì người ấy cần phải biết cách, biết lý do và mục đích của hành động. Do đó cần phải biết mục đích và mục tiêu hành động của mình (KP 6.3.1846).
22. Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, nên con người cần tình yêu vượt trên hết mọi thứ khác (RV 1856, S. 3).
23. Vì con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa nên con người có thể yêu thương; vì Thiên Chúa là tình yêu, nên con người chỉ có thể tìm thấy cùng đích đích thực nơi Thiên Chúa. Tôn giáo là nền tảng của con người, và chỉ có tôn giáo mới đem đến cho con người một mục tiêu đích thực và dẫn con người tới một kết cục xứng đáng (FS 1851, S. 62).
24. Con người được Thiên Chúa tạo dựng theo cách mà suốt đời con người cần tình yêu và sẽ nhận được tình yêu (RV 1857, S. 247).
25. Con người không chỉ sống nhờ cơm bánh, nhưng còn cần có Lời Chúa để hiện hữu, đó cũng là một chân lý có tính xã hội (RV 1857, S. 747).
26. Tâm hồn con người nhận biết tự đáy lòng rằng những tình cảm thực sự của nó có thể tốt đẹp và hạnh phúc hơn thực trạng đang diễn ra nhiều, và nó không ngừng hi vọng một ngày kia sẽ tìm thấy hạnh phúc, vâng, một điều gì đó còn lớn lao hơn hạnh phúc nữa, vì hạnh phúc còn có thể mất đi. Vì thế, con tim sẽ sẵn lòng bỏ qua hiện tại, quên đi quá khứ, cho dù quá khứ có thể khó khăn và cay đắng đến đâu, và con tim sẽ vươn tới tương lai tràn trề hi vọng, mong cho niềm vui mau đến để làm cho con tim nghèo nàn được thỏa mãn; con tim không thể và sẽ không bao giờ có thể để cho niềm vui bị vuột mất một lần nữa (RV 1857, S. 3).
27. Con người không được tạo dựng để phải khốn khổ và thất vọng, nhưng để được hưởng niềm vui. Điều khá tệ hại là chính con người lại gây nên đau khổ và thất vọng cho chính mình (RV 1865, S. 2).
28. Cuộc sống trần gian của con người không bao giờ hoàn toàn đen tối, xấu xa và hư hỏng. Những yếu tố xấu xa và độc ác là một phần của bản tính con người và đối nghịch với bản tính ấy. Do bản tính và hành động con người, có lẽ trong cõi đời này sự đối nghịch ấy sẽ chẳng bao giờ chấm dứt (RV 1860, S. 1671).
29. Nếu nhìn vào tâm hồn con người và cung cấp chất nuôi dưỡng thực sự cho tâm hồn ấy thì người ta sẽ nhận ra con người là gì và có thể làm gì. Tất cả mọi người đều có điểm trung tâm, và tâm điểm hiện hữu phản chiếu hình ảnh Thiên Chúa chính là tâm hồn con người khao khát yêu thương; không phải là tình yêu xác thịt hoặc tình yêu nhất thời mà là tình yêu chân chính, tình yêu biết chấp nhận hi sinh và đòi hỏi sự tín trung mãi mãi (KT.1853, S. 93).
30. Tự bản chất, con người bị quá nhiều vấn đề và khiếm khuyết gây khó khăn do bởi không nhận thức được, ngay cả trong những việc làm và công việc chú tâm nhất. Mặc dù đó là điều đáng tiếc theo một nghĩa nào đó, nó làm cho con người phải khiêm tốn và thường xuyên nhắc nhở con người về cùng đích đời mình là cố gắng đạt tới sự hoàn thiện (RV 1861, S. 412).
31. Nếu Chúa không mạc khải chính xác và rõ ràng cho chúng ta, thì không bao giờ chúng ta tìm thấy hay hiểu được số phận của các sự vật, trong đó có định mệnh của chúng ta; ngay cả mục đích và chủ định của gia đình cũng được mạc khải rõ ràng nhất nhờ bởi Thiên Chúa (FS 1851, S. 59).
32. Hình ảnh của Thiên Chúa vẫn còn cả nơi những kẻ xấu xa và tội lỗi nhất (RK 1850, S. 25).
33. Nếu con người trong toàn bộ hữu thể của mình, như đã được Thiên Chúa tạo dựng, phải tìm ra định mệnh và cứu cánh đời mình, thì hẳn là không có gì ngăn cản được con người đạt đến cứu cánh ấy. Thiên Chúa đã không tạo nên các chướng ngại vật, nhưng đã ban cho con người mọi phương thế cần thiết để cố gắng đạt được số phận trần gian và cùng với nó là cứu cánh vĩnh cửu của mình (RV 1859, S. 739).
34. Dưới chân Thập Giá, người Kitô hữu sẽ tìm thấy điều mà trần gian không thể ban tặng (RK 1859, S. 25).
35. Thiên Chúa đã tạo dựng con người «linh ư vạn vật» có thân xác chứa đựng linh hồn bất tử. Vậy Thiên Chúa ấn định cho mỗi người một vị trí riêng biệt trong trần thế và ban cho người đó những hồng ân, sức mạnh và nhiệm vụ thích hợp với địa vị người đó. Và Thiên Chúa mong ước mỗi người sống phù hợp với đòi hỏi của Ngài (UF. S. 68).
36. Do bản tính, con người muốn tự thoát khỏi đau khổ của tội lỗi, muốn được bình an trong tâm hồn, muốn, và phải hiến tặng trái tim mình cho một điều gì đó và tìm thấy bình an hoan lạc trong việc hiến tặng ấy (KP 20.3.1846).
Chương 7
Nhận thức sống động về Đấng Cứu Độ
là trung tâm mọi nền giáo dục chân chính
1. Vậy nhận thức sống động về Đấng Cứu Độ, kể cả việc yêu mến Ngài, hầu như là trái tim, là nhịp đập của mọi nền giáo dục chân chính. Nếu một người yêu cuộc sống, hoặc tốt hơn nữa là yêu cuộc sống của Đấng Cưú Thế một cách tự do và vui tươi, thì tự động người đó sẽ trở nên thánh thiện. Nơi người đó hình ảnh của Thiên Chúa sẽ càng rõ nét hơn, rực rỡ sáng láng hơn. Toàn bộ cuộc sống người ấy sẽ trở nên cuộc sống của người Kitô hữu, cuộc sống của kẻ được rập khuôn theo Đức Kitô (RV 1854, S. 435).
2. Lý tưởng và gương mẫu duy nhất có giá trị đối với con người là chính Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ chúng ta và là Con Thiên Chúa làm người (RV 1859, S. 758).
3. Hình ảnh của Thiên Chúa nơi con người tạo nên ý nghĩa cuộc đời và là cốt lõi của bản tính con người. Nhờ giáo dục mà hình ảnh ấy ngày càng trở nên giống Thiên Chúa hơn cho đến khi giống Ngài tột độ, như thể giữa hình ảnh và nguyên bản vậy. Vâng «Hãy nên hoàn thiện như Cha Ta ở trên trời là Đấng hoàn thiện» Đó là luật nền tảng thánh thiêng của mọi nền giáo dục chân chính (RV 1854, S. 422).
4. Chỉ có tôn giáo mới giáo dục được con người, còn mọi nền giáo dục khác không thể đạt được điều gì trường tồn, bền vững, hay thực sự thỏa đáng (KS 2, Tr 14).
5. Giáo dục có nghiã là công việc sáng tạo, đào luyện, uốn nắn. Công việc này càng sắc sảo, hoàn hảo hơn thì sự nghiệp giáo dục càng mỹ mãn, hoàn toàn hơn. (RV 1854, S. 419).
6. Đức Kitô, Con Thiên Chúa làm người, là nguyên bản hữu hình làm khuôn mẫu cho việc giáo dục con người (RV 1854, S. 423).
7. Khi dạy rằng con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa và chính Thiên Chúa đã sai Con Ngài đến để phục hồi hình ảnh đã bị biến dạng, Kitô giáo muốn dùng việc giáo dục để dẫn dắt con người đến với sự thánh thiện. Hình ảnh thiêng thánh sẽ trở nên mạnh mẽ, rõ ràng và nhân hậu hơn (RV 1859, S. 758).
8. Chúng ta phải nên tốt lành vì Thiên Chúa là Đấng tốt lành. Thiên Chúa tốt như thế nào thì ta cũng phải tốt như thế ấy. Cần phải nên tốt lành nghĩa là cố gắng đạt cho được sự hoàn thiện. Tất cả sự học tập và kiến thức đều hướng đến mục tiêu đó. Nếu không, chúng sẽ là vô dụng mà, thực ra, thậm chí còn có hại (RV 1854, S. 452).
9. Mến Chúa yêu người là đòi hỏi căn bản của nền giáo dục nhân bản đích thực (RV 1854, S. 453).
10. Lý lẽ biện minh cho nền giáo dục chân chính thăng tiến «lợi ích đạo đức quốc gia» dựa trên lòng kính sợ Thiên Chúa, lòng kính sợ ấy là căn nguyên của tất cả sự khôn ngoan và là cốt lõi của mọi giá trị cũng như công việc (RV 1865, S. 139).
11. Con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, và với sự trợ giúp của Ngài được dành cho việc nên giống Ngài hơn (RV 1854, S. 423).
12. Điều hệ trọng đầu tiên và cần thiết nhất phải đi trước mọi nền giáo dục Kitô giáo đích thực và hợp lý, để đạt được mục tiêu, là nắm bắt được về bản tính và điều kiện sống của con người (RV 1855, Tr 421).
13. Nhưng lúc này lại phát sinh một vấn nạn lớn: Tri thức có phải là giáo dục không? Một người có thể biết nhiều mà vẫn còn là một món đồ đạc rất là tồi tàn trong nhà của Thiên Chúa; một người có thể rất thông minh, siêu đẳng, thế nhưng có lẽ không hơn gì một mặt nạ vô nhân, một thứ sinh linh bị khinh bỉ trước mắt nguyên bản vĩnh cửu của Thiên Chúa. Phải, tri thức tự nó là tốt nhưng chỉ là điều kiện tiên quyết của giáo dục, là khí cụ con người có thể dùng để làm cả điều tốt lẫn điều xấu; tri thức có thể hủy diệt tâm hồn bằng cách này hay cách khác. Hơn nữa, chỉ có tri thức trần tục,, nhưng cũng là những sự việc tâm linh bị giới hạn trong kinh nghiệm loài người, có thể thực sự giúp con người đạt được nền giáo dục chân chính không? Không, và một lần nữa không! Nếu con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và được đòi hỏi trở nên thánh thiện hơn, thì tri thức con người không đủ để đạt được mục tiêu ấy. Sự hiểu biết về Thiên Chúa, về tôn giáo trở thành nền tảng của mọi tri thức, vì nếu không có chúng thì không thể nào đến gần Thiên Chúa hơn được. Thiên Chúa không dựng nên con người để con người có thể nhận ra công việc của Ngài, nhưng là để con người có thể nhận ra chính Ngài. Không phải cho đến khi con người nhận biết được Thiên Chúa thì tri thức con người mới có thể sử dụng mọi sự khác chung quanh. Con người không phải được tạo dựng theo hình ảnh của bản tính xác thịt nhưng là theo hình ảnh của Thiên Chúa. Vì vậy, con người cần nhận biết Thiên Chúa trước khi con người làm cho mọi sự khác có ý nghĩa. Đó mới thực sự là điểm chính về tri thức (RV 1854, S. 451).
14. Tiến bộ, nghĩa là gì? Đối với người Kitô hữu thì tiến bộ có nghĩa là càng ngày càng có nhiều chân lý thêm vào chân lý đã có trước và cuối cùng là rời bỏ cuộc sống này để về Thiên quốc (KP 13.3.1846).
15. Người tự học là người biết phán đoán mọi vật quanh mình dưới ánh sáng của kinh nghiệm cá nhân; những công việc và sáng tạo bề ngoài sẽ tùy thuộc vào nền giáo dục tinh thần và nội tâm của người đó (RV 1856, S. 595).
Chương 8
Thiên Chúa đặt mỗi người
vào nơi Ngài cần họ
1. Thiên Chúa đặt mỗi người vào nơi Ngài cần họ (KT.1852, S. 231).
2. Hãy suy nghĩ về ý định Thiên Chúa dành cho bạn và hãy cố gắng hết sức để chu toàn thánh ý của Ngài. Xét cho cùng đó là nhiệm vụ quan trọng và cần kíp nhất của người Kitô hữu (KS 2, S. 70).
3. Thiên Chúa đã đặt con người ở đâu thì ở đó con người sẽ tìm được công việc của mình, sẽ phát đạt tối đa, sẽ phát triển mọi mặt mạnh của mình (RV 1854, S. 223).
4. Tất cả những gì người ta làm trên đời này đều phải có một mục tiêu chắc chắn và an toàn, vì chỉ có kẻ khờ dại mới nhắm mắt chạy quàng, không có một kế hoạch nào. Nhưng người ta cần suy nghĩ nhiều về kết thúc hơn là về khởi đầu như có nhà khôn ngoan đã nói: Kẻ khôn ngoan nghĩ về kết thúc, còn những ai chỉ quan tâm đến khởi đầu mà không đặt những câu hỏi về kết thúc, tỏ ra họ chẳng khôn ngoan chút nào (RV 1854, S. 233).
5. Dù bạn là gì đi nữa, bạn phải là thế một cách trọn vẹn (MV 1863, H.1, Sp 21).
6. Người ta là cái do mình tạo ra từ chính mình (KP 18.2.1848).
7. Chỉ khi nào người ta thôi không nghĩ về điều mình muốn, về điều thích hợp nhất với mình thì chính con người thường biết rõ về mình nhất (KS 2, S. 7).
8. Con người sẽ hạnh phúc nếu nỗ lực hành động và sống như người ấy phải thế (GV. S. 23).
9. Chắc chắn không thể thiếu những nguyên tắc và luật lệ hướng dẫn nếu con người muốn thực hiện được một điều gì đó. Nếu các hoạt động của con người cần phải được tốt đẹp thì những kim chỉ nam phải cho được tốt (KS 2, S. 11).
10. Không thể có gì quan trọng và nghiêm túc hơn là việc định hướng cho cuộc đời. Tất cả đều tùy thuộc vào điều đó: vận may hay thất bại, phúc lợi, thái độ và địa vị của người ấy trong xã hội, cũng như việc hoàn thành một nhiệm vụ vượt xa trên mọi thứ gì khác – tôi có ý nói số phận vĩnh cửu của người ấy. Nếu khởi đầu không có chủ đích, nếu cuộc sống bị trệch hướng, coi điều ít quan trọng nhất hơn điều quan trọng, hoặc hành động chỉ theo cảm tính thì nhiều việc, nếu không nói là tất cả, sẽ phải thất bại (KS 2, S. 7).
11. Dù đang vui hưởng tuổi xuân, việc có thể làm được điều gì đó hay không là tùy thuộc vào chính mỗi người bạn trẻ. Các hoạt động tương lai tuỳ thuộc vào thái độ của người ấy. Như thế vấn đề thiết yếu là người đó có chấp nhận trật tự đúng đắn và những công việc của chính mình để có được thái độ đúng đắn hay không, kể cả khi việc đó đòi hỏi phải từ bỏ các hoạt động mà những người trẻ khác yêu thích. Con người cần có một mục đích riêng biệt và phải sử dụng tất cả khả năng để thực hiện được mục đích ấy (KS 2, S. 11).
12. Thái độ là nền tảng của mọi hoạt động; thái độ làm cho một hoạt động đích thực là hoạt động, như linh hồn đối với con người vậy (RV 1856, S. 660).
13. Mọi việc con người làm đều có cả ngoài lẫn trong, nghĩa là việc làm hữu hình và thái độ bên trong hay là ý hướng người đó mang đến cho công việc mình làm. Dĩ nhiên con người có giá trị hay không là do tâm hồn, thái độ và những ý hướng của người đó, không phải chỉ trước mặt Thiên Chúa mà còn trước mặt loài người nữa. Các hành động của con người cũng có giá trị do ở thái độ mà người đó có khi thực hiện công việc (FS 1851, S. 98).
14. Các hoạt động của con người được lượng định theo giá trị đạo đức của chúng, vì thế hành vi to tát nhất có thể chẳng có ý nghĩa gì nếu nó không đạt được các chuẩn mực đạo đức. Tôi tin rằng giá trị đạo đức tùy thuộc vào thái độ và thái độ dựa trên các nguyên tắc. Đây là những yếu tố tạo nên ý muốn của con người, ý muốn sẽ tự thể hiện qua hành động của người ấy (FS 1851, S. 98).
15. Giá trị đạo đức của một người tùy thuộc vào thái độ, kiến thức và việc sử dụng có chừng mực năng lực thể lý của người ấy. Những việc làm tốt đẹp của một người có thể là hữu ích cho những người khác, nhưng nếu không có giá trị đạo đức thì sẽ là vô ích cho chính người đó: ai đó cần cù làm việc vì lợi ích nhân loại có thể vẫn chỉ là một tính cách đáng thương mà thôi (KS 2, S. 13).
16. Trung tâm đời sống của một người là tâm hồn và tinh thần của người ấy. Vì thế con người được đánh giá theo con tim chứ không theo cái đầu của người đó. Vậy con người đáng giá là nhờ cõi lòng mình.
17. Người ta cần sử dụng lương tri để bắt mình thực thi những nghĩa vụ của mình. Bất kỳ việc sử dụng hay lợi dụng hời hợt nào, cho dù hấp dẫn đến đâu và đưa con người đi xa đến đâu đi nữa, cũng sẽ không đủ. Và nếu chỉ có tham vọng mà thôi, dù có đam mê đến mấy đi nữa, cũng chỉ là quá sức phiến diện, quá yếu kém trong cuộc chạy đua đường trường, và nhất là vẫn không có đủ người để lợi dụng (RV 1846, S. 52).
18. Lương tâm, nghĩa là lòng kính sợ Thiên Chúa, luôn đòi hỏi danh dự và sự công chính. Lương tâm là chuẩn mực cá nhân chính yếu của con người và do đó là nhân đức xã hội thiết yếu nhất. Tất cả các nhân đức khác đều phát triển từ lương tâm hoặc có lương tâm làm nền tảng. (RV 1846, Tr 52).
19. Không ai có thể cho rằng Thiên Chúa đã không ban cho mình đủ phương tiện để hoàn tất mục tiêu của Ngài (FS 1851, S. 81).
20. Nếu để con người sử dụng những mưu chước của mình thì chỉ có tàn phá chứ không thể xây dựng (RK 1850, S. 14).
21. Người nào nắm giữ một địa vị do tự chọn một cách cẩn thận và được Thiên Chúa hướng dẫn, chứ không phải do lòng kiêu căng cố chấp, thì người đó phải vui vẻ hoàn thành các trách vụ đi đôi với địa vị đó (RV 1854, S. 223).
22. Một người không thể dễ dàng thành thạo nhiều nghề mà chỉ cần tập trung vào một nghề thôi (FS 1851, S. 18).
23. Kẻ nào thực sự dùng hết sức để chu toàn công việc của mình, biết nhiệm vụ chính của đời mình là gì và hoàn tất các nhiệm vụ của mình, kẻ đó đã thực hiện được rất nhiều (RV 1854, Tr 223)
24. Một người có thể làm tốt ở mọi nơi và trong mọi địa vị, bao lâu người ấy sẵn lòng mở tai mắt, và nhất là mở rộng cõi lòng, để khám phá ra điều cần làm (VK 1853, S. 83).
25. Nếu chúng ta có thể liệu cho mọi người tìm ra và giữ đúng địa vị của họ trong xã hội thì hẳn là chúng ta đã tiến xa, rất xa (RV 1857, S. 344f).
26. Nếu chúng ta muốn được như một người nào đó, hoặc làm cho mình thành một cái gì đó thì chính chúng ta phải. làm. Thật là vô ích nghe những lời hứa hão của diễn giả chẳng có gì để cống hiến mà chỉ biết nói, hoặc chỉ biết trông mong sẽ thắng đậm; một vài kẻ đã có cái may đó. Không, chúng ta phải sử dụng con tim, lòng can đảm và năng lực của mình để làm việc và suy nghĩ (KT.1851, S. 106).
27. Chẳng ăn thua gì khi thúc đẩy một người vượt quá giới hạn của người ấy. Nhưng không nên bỏ qua cơ hội mà không tìm cách thúc đẩy người đó đạt tới giới hạn ấy (VO 1850, S. 32).
28. Khả năng đích thực tùy thuộc vào sức mạnh đang có và lòng can đảm để dùng sức mạnh đó. Người ta cũng cần có kinh nghiệm và sáng suốt để sử dụng sức mạnh đúng cách, đúng nơi và đúng mục đích (RV 1861, S. 330).
29. Sự thành thục không dễ gì đạt được và cũng chẳng phải là kết quả của sự lông bông, nhưng là thành quả của những nỗ lực nghiêm túc và liên lỉ, của những hy sinh và những thói quen tốt (RV 1864, S. 50).
30. Cần có sự thành thục cá nhân, sự thành thục mà nhiều thứ nếu không nói là mọi sự tùy thuộc vào đó, ở hai mức độ: trong tính cách đạo đức và trong sự trau dồi nghề nghiệp. Sự thành thục không được phép tách rời khỏi hai lãnh vực đó nhưng phải đi đôi với chúng (RV 1864, S. 50).
31. Không thể mua được các nhân đức như mua nguyên vật liệu trong công việc làm ăn, cho dù người ta có đủ tiền; thường người ta phải sắm các nhân đức qua sự vất vả khó nhọc (MV 1864, H.3, Sp 82).
32. Sự thành thạo trong công việc của mình có thể đem lại sự thỏa mãn bên trong, tự tin và danh dự. Đó là những thứ cần thiết cho mọi người (RV 1854, S. 223).
33. Lòng tin là mảnh đất tốt cho công việc (VK 1851, S. 122).
34. Mọi công việc đích thực tồn tại vững chắc trên nền tảng tôn giáo. Vậy không có công việc nào có thể và phải được nghĩ đến mà không có mối liên hệ mật thiết với tôn giáo (RV 1854, S. 223)
35. Không quan trọng, dù là một đứa trẻ sau này trở thành nông dân hay là vị Thủ Tướng lãnh đạo quốc gia, hoặc một nghệ sĩ trong phòng thâu hay một công nhân đáp ứng nhu cầu của đời sống hằng ngày, hoặc một người ăn xin sống nhờ lòng nhân từ của người khác, thì người đó vẫn đáng được kính trọng ở bất cứ nơi nào người đó hiện diện, bởi vì đó là một con người «linh ư vạn vật» (RV 1856, S. 275)
36. Con người có thể làm việc lành một cách dễ dàng và tốt nhất nếu Thiên Chúa đặt người đó vào đúng vị trí (VK 1853, S. 82).
37. Nhân đức sẽ tăng triển và trở nên mạnh mẽ nhờ đương đầu với những khó khăn, trở ngại (VK 1851, S. 73).
Chương 9
Con người phục vụ đối tượng mình yêu mến
1. Nếu một người thực sự dấn thân vào việc gì, thì người đó sẽ phục vụ điều ấy bằng cách này hay cách khác (RV 1857, S. 90).
2. Người ta sẽ phục vụ điều mình yêu mến (KP 3.4.1846).
3. Các bữa ăn do người ta tự nấu thường ngon miệng nhất (FS 1851, S. 6).
4. Không có hạnh phúc, vui tươi thì con người không thể sống, ít ra là khi còn trẻ (VO 1850, S. 26).
5. Cuộc sống xã hội không thể thiếu vắng niềm vui. Tuy nhiên, mức độ vui tươi còn tùy thuộc vào mục tiêu của đời sống chung. Thư giãn, giải trí, vui tươi là những đòi hỏi tự nhiên của đời người, là thành phần làm nên cuộc sống của mỗi người. Cấm đoán niềm vui tức là làm tổn thương đến cuộc sống lành mạmh và cuối cùng là giết chết cuộc đời đã bị tổn thương đó (FS 1851, S. 5).
6. Niềm vui của con người không thể được trọn vẹn nếu không thấy phản chiếu ánh sáng Phúc âm và mang khía cạnh tâm linh nhờ ánh sáng ấy. Rõ ràng bởi lý do đó mà một người bị thôi thúc trong tâm hồn khiến cho người ấy cảm thấy hân hoan khi tìm cách liên kết niềm vui của mình hoặc một biến cố vui mừng trong đời với tôn giáo. Đàng khác, Kitô giáo chỉ còn biết rất sung sướng chúc lành cho những lễ hội chính đáng. Đây là lý do khiến cho đời sống chung vui tươi, lành mạnh sẵn lòng hợp sức với tôn giáo, và Kitô giáo vui lòng hiện diện trong mọi dịp vui vầy của con người, không phải để làm hỏng nhưng là để nâng chúng lên đúng tầm vóc con người, nghĩa là để cổ võ niềm vui Kitô giáo trong cuộc sống trần gian này (RV 1859, S. 3).
7. Người trẻ cần cảm nhận được hạnh phúc từ bên trong, nếu không thì thực là đáng thương. Trong cuộc sống hằng ngày, đã có đủ chuyện có thể làm cho mỗi người mất vui rồi (KT.1862, S. 193).
8. Người ta không thể ra lệnh, yêu cầu hoặc tạo ra niềm vui. Niềm vui phải được tự phát sinh; tâm hồn muốn đạt được niềm vui cách tự nhiên, vì thế người ta cần để cho tâm hồn làm theo ý nó (FS 1851, S. 6).
9. Linh hồn con người tự biểu hiện một cách ý nghĩa nhất khi gặp cảnh buồn, nhưng cũng cả khi vui nữa (VO 1850, S. 26).
10. Nếu có những người không có được niềm vui trong đời, những người muốn bi quan hóa mọi chuyện, những người mà sự khốn cùng của đời sống trần thế còn chưa đủ khốn cùng cho họ, thì chính họ là người cần niềm vui hơn ai khác để khiến họ trở lại thành con người giữa những con người (FS 1851, S. 5).
11. Nụ cười tươi vui đáng giá hơn lửa hỏa ngục đời đời và bài giảng nồng cháy rất nhiều (RV 1861, S. 676).
12. Nếu muốn dùng rượu để làm cho vui vẻ thì người ta cần phải có một tâm hồn vui tươi trước khi uống rượu. Nếu uống rượu với một tâm hồn chua chát thì kết quả lại còn khốn khổ hơn nhiều (RV 1858, S. 444).
13. Có một câu chuyện cổ xưa, xưa như trái đất, kể rằng tâm hồn con người thường xuyên sống trong hy vọng và do đó mong chờ sự đổi thay, nghĩa là mong ước điều gì đó tốt hơn trong tương lai (RV 1858, S. 2).
14. Nỗi khát khao có một tương lai tốt đẹp hơn được khắc sâu trong tâm hồn con người. Niềm ước mong hạnh phúc được liên kết rất mật thiết với linh hồn con người đến nỗi hầu như không thể phá hủy bất cứ niềm hy vọng nào về tương lai, hoặc không thể biến niềm mong ước đã bắt rễ sâu xa thành sự thất vọng u tối nhất được. Cho dù các biến cố xẩy ra mỗi ngày và thường ngày có phá vỡ những kế hoạch, thì con người vẫn tiếp tục hy vọng rằng ngày mai sẽ may mắn hơn. Con người không thể và sẽ không hết hi vọng rằng mọi sự sẽ thay đổi, thực sự phải thay đổi, vì những niềm hi vọng này rất thường là nền tảng cho sự hiện hữu của con người (RV 1865, S. 2).
15. Con người suy nghĩ và Thiên Chúa hướng dẫn; sự việc thường không biến chuyển theo cách người ta nghĩ (KS 2, S. 254).
16. Khả năng biết ơn cũng là niềm vui tột đỉnh (KS 2, S. 131).
17. Sống là hoạt động (RV 1863, S. 402).
18. Hãy khởi đầu, thực ra điều chính yếu chính là khởi đầu. Hãy khuyến khích người khác, hãy dũng cảm đi trước và Thiên Chúa sẽ hỗ trợ (RV 1863, S. 402).
19. Chính nghĩa đích thực cần có người tốt, là người sẵn sàng hi sinh thực sự để đạt được mục tiêu của mình (KS 2, S. 174).
20. Trở ngại càng lớn, lòng can đảm sẽ càng tăng (KS 2, S. 165).
21. Ai không sẵn sàng hi sinh vì chân lý và công bình, vì quyền lợi và nghĩa vụ, thì thái độ của người ấy thật đáng trách và đê tiện vì kẻ đó hi sinh mọi nguyên lý cao cả hơn để đổi lấy những thứ thấp kém (RV 1859, S. 136).
22. Sẵn sàng đón nhận mọi hi sinh trong giờ phút quyết định, ủng hộ hết mình mọi điều chính đáng; chết vì nhiệm vụ: tất cả những điều đó làm ta vững mạnh và dồn sự khốn khổ đến chân tường (RV 1859, S. 102).
23. Chỉ những ai thực sự coi trọng giá trị cao cả của tự do, mới có thể đối phó với cảnh nô lệ làm mất phẩm giá (KP 3.4.1846).
24. Chỉ những công việc nửa vời mới là vô dụng, và luôn phản tác dụng về sau. Vì thế, hãy dấn thân trọn vẹn và dứt khoát khi quyền lợi và bổn phận đòi hỏi (RV 1859, S. 283).
25. Lòng hăng hái ban đầu hẳn dễ dàng không đếm xỉa đến những khó khăn phải có sau này, hẳn là quá lạc quan về sức mạnh của mình… Lòng hăng hái ban đầu thích nhìn mọi sự qua lăng kính màu hồng… thành công lúc khởi đầu có thể làm lệch hướng khiến người ta lạc quan tin tưởng rằng mọi sự sẽ xuôi xắn như lúc khởi đầu (MV 1865, H.4, Sp.106).
26. Can đảm chấp nhận điều không thể tránh cũng là sự khôn ngoan (KS 2, S. 223).
27. Nếu chỉ vì không thể đạt được những điều lớn lao, điều ấy không có nghĩa là người đó không phải đảm trách những việc nhỏ; và nếu một người không thể tự mình hoàn tất nhiệm vụ thì người ấy vẫn phải góp phần bằng bất cứ cách nào có thể (FS 1851, S. 47).
28. Những ai cứ ở thế thủ hoài thì, như một qui luật, người ấy đã phần nào thất bại rồi (RV 1860, S. 594).
29. Nếu một người quan tâm đúng mức đến trách vụ mình đảm nhận, người ấy sẽ thích thú học biết cách phục vụ tốt nhất, biết hi sinh nếu điều ấy làm công việc tiến triển; vì tâm hồn sống theo luật yêu thương và tình yêu đối với sự nghiệp là ông thầy tốt nhất và là nghệ thuật ngoại giao tinh tế nhất (MV 1863, H.1, Sp.5).
30. Bổn phận phải có quyền thế trên tâm hồn, nếu không thì sớm muộn gì cách mạng cũng xẩy ra và lập tức dẫn đến cảnh khốn khổ (KS 2, S. 155).
31. Chỉ những kẻ thực thi các bổn phận bên ngoài một cách thiếu suy nghĩ mới chán nản với mọi việc họ làm (VK 1853, S. 85).
32. Nỗi khốn khổ dạy ta biết cầu nguyện nhưng cũng dạy ta biết hiệp nhất với nhau (RV 1859, S. 269)
33. Bước đầu tiên, nhưng không phải là điều khó nhất, có lẽ là chấp nhận lẽ phải (RV 1858, S. 519).
34. Trước khi tôi có thể tin nhận điều gì hoặc coi đó là chân lý, tôi cần có những lý do để tự thuyết phục mình; nếu không thì thật là cả tin và đáng bị chê trách (KS 1, S. 64).
35. Người ta sẽ chẳng bao giờ thực sự hiểu được chân lý cho đến khi chân lý trở nên sống động trong người đó (RV 1859, S. 245).
36. Nếu bạn làm đúng hay sai là hoàn toàn tùy thuộc vào lòng bạn, thì chỉ có mình Thiên Chúa và cả chính bạn có thể biết rõ điều đó vì nó là của riêng bạn. Còn hãy để các tâm hồn khác cho Thiên Chúa phán xét (RK 1850, S. 11).
37. Tâm hồn và trí tuệ luôn là nguồn gốc của mọi điều tốt lành, cao cả (RV 1858, S. 442).
38. Chính tâm hồn và trí tuệ chứ không phải là khối óc, làm cho con người có giá trị và ý nghĩa đích thực. Người ta cần khối óc của một con người nhưng yêu thương tâm hồn người đó (FS 1851, S. 106).
39. Con người không thể tìm thấy hạnh phúc nơi tiền bạc và giầu sang nhưng là ở một tâm hồn biết yêu thương chân thật và biết mãn nguyện (FS 1851, S. 106).
40. Con người tạo ra hạnh phúc cho chính mình; con người không thể tạo ra vóc dáng của mình vì điều đó là bởi Chúa, nhưng người ta chịu trách nhiệm về gía trị riêng của mình trước mặt Chúa và người khác (KT.1851, S. 136).
41. Niềm vui và ơn phúc là hai món quà ưu ái và nhiệm mầu của Thiên Chúa. Đó là thứ kho tàng đặc biệt trong đời mà người ta không thể mua hay học được (KS 2, S. 29).
42. Có vài điều cần phải được nếm thử trước khi có thể hiểu được chúng (GV. S. 13).
43. Đôi khi những người bình thường cần rời bỏ cuộc sống hằng ngày để sau đó mới hiểu được ý nghĩa cuộc sống ấy (RV 1854, S. 358).
44. Con người cố gắng tìm hiểu bản chất và nội dung của các sự vật, tìm ra tính cách và số phận của chúng vì con người có thể suy nghĩ; con người muốn mọi sự được rõ ràng và tìm cách tự học hỏi hoặc học hỏi nơi những người khác (RV 1859, S. 227).
45. Sự hăng say quá mức thường làm cho người khác nghi ngại về bất cứ điều gì người ấy làm (VK 1852, S. 54).
46. Chỉ trong ánh thái dương ngời sáng con người mới thực sự thấy được chiều rộng và chiều sâu của sự vật, mối quan hệ giữa chúng với nhau, bản chất, mầu sắc và hình dáng của sự vật. Sự vật càng lớn, càng rộng và càng sâu thì con người càng cần ánh sáng rộng lớn ban ngày để đo lường chúng cách thích hợp. Chẳng hạn, nếu người ta thắp một cây nến trong đêm tối và… cố quan sát một vật, người ta sẽ chỉ thấy riêng từng phần chứ không thấy toàn bộ vật ấy và người ta có thể phán đoán sai lạc về hình dáng, màu sắc và tính chất của nó (RV 1858, S. 165).
47. Không ngừng thăm dò khả năng, triển vọng sẽ làm suy yếu và gây lộn xộn cho cảm giác và trí óc (RV 1863, S. 633).
48. Cuộc sống, như người ta thường hiểu, tùy thuộc vào những sợi chỉ mong manh nhưng lại khó nắm bát, và những gì có thể xem ra là sợi chỉ yếu ớt nhất lại thường luôn có sức mạnh cũng như năng lực thực sự (RV 1857, S. 214).
49. Con người có thể phô trương những công đức của mình mà Thiên Chúa không quan tâm cũng như ghi nhớ những công đức đó. Tất cả tùy vào cách con người làm điều lành. Chỉ khi những việc lành được thực hiện với một trái tim tự do và hạnh phúc, chỉ khi chúng phát xuất từ tình yêu thì những việc lành đó mới có chỗ đứng và mới có giá trị thường là vô kể (RV 1858, S. 104).
50. Con người trở nên khôi hài khi nhiễm thói khoe khoang về kiến thức, nếu người đó đứng lên và tỏ ra sự khôn ngoan của mình bằng 10 thứ tiếng. Nước Trời không coi trọng về kiến thức nhưng đòi hỏi một điều hoàn toàn khác: tích cực làm việc (KS 2, S. 57).
51. Những gì có tính cấp thời hoặc có vẻ như dùng ngay được sẽ là thứ bán chạy nhất. Đừng đem lại rắc rối cho người ta! Đừng khuấy động hoặc tệ hơn là thay đổi thói quen cố hữu của họ (RV 1859, S. 212).
52. Những kẻ chẳng có gì lớn lao để tỏ bày thì thích phô trương những điều nhỏ nhặt (RV 1856, S. 421).
53. Những điều mà người ta không yêu thích khi còn trẻ thì hiếm khi họ thích khi về già (KP 18.2.1848).
54. Con người có thể hiểu lầm cho dù có thiện ý tốt lành nhất, nhưng lại có thể nói dối chỉ vì một ý xấu (KP 6.3.1846).
55. Người ta thường hay phàn nàn một cách vô tư vì bản tính con người không bao giờ hoàn toàn thỏa mãn nhưng luôn mong có một điều gì đó đáng phải phàn nàn (RV 1856, S. 457).
56. Ngu dốt là mẹ của nhiều sự dữ (RV 1856, S. 483).
57. Ba phần tư nỗi đau khổ của chúng ta và phân nửa của phần tư còn lại hoàn toàn là do bởi những ý nghĩ phóng đại của chúng ta về những thành quả và nỗ lực của mình để gia tăng vị thế của mình trong thế giới (RV 1854, S. 340).
58. Một phần của bản chất con người là giấu diếm sự đau khổ do tự mình gây nên. Còn đau khổ do người khác gây ra thì được bàn luận một cách vô tội vạ và tạo nên lòng trắc ẩn bàng quan. Tuy nhiên, nếu người nào tự mình gây ra đau khổ… thì người ấy cố gắng giấu nó đi chừng nào có thể. Đó là lý do khiến trần gian được miễn khỏi quá nhiều đau khổ và khốn cùng mà rồi lại vẫn thấy chúng nơi các tâm hồn chua xót và cay đắng (MV 1864, H.3, Sp.88 f).
59. Lòng tham vô độ không biết dừng lại và không cùng; nếu con người chiều theo bản chất tham lam của mình thì không tránh khỏi sự suy sụp (RV 1859, S. 46).
60. Tính hám danh là kẻ thù đáng nguyền rủa của sự suy nghĩ nghiêm túc và thận trọng (RV 1859, S. 59).
61. Những kẻ quá tự phụ trở thành ngu ngốc do tính kiêu căng của họ, vì họ dùng hết trí óc để tự thán phục mình trong gương. Điều đó làm cho tinh thần mất đi lòng can đảm (RV 1861, S. 756).
62. Con người hiếm khi học hỏi được từ lầm lỗi của người khác (RV 1857, S. 439).
63. Người ta xấu hổ về hiện trạng của mình nhưng lại không biết xấu hổ khi tỏ ra là một điều gì đó mà không phải là mình (RV 1864, S. 51).
64. Một khi người ta trở nên hèn yếu, người đó làm mồi cho sự rồ dại, và một khi sự hèn yếu của người ta được biết đến thì người đó dễ dàng hỗ thẹn vì mọi chuyện (KT 1851, S. 105).
65. Nếu ngày này qua ngày khác một người ngồi nơi dơ bẩn, thì sự dơ bẩn sẽ không chỉ tụ lại ngoài da nhưng sẽ thấm qua da vào trong tâm hồn và sẽ giúp tàn phá người ấy hơn là người ấy tưởng (FS 1853, S. 26).
66. Nếu một người muốn giữ sạch sẽ, người đó không được ngồi nơi dơ bẩn (FS 1852, S. 174).
67. Con người vẫn điên khùng và mù quáng tự hủy hoại cuộc sống và sự chung sống hạnh phúc vừa ý của họ. Sau đó họ phàn nàn không ngừng một cách vô ích về sự khốn khổ tự gây ra, hoặc là trách móc những người khác về điều đó trong khi thực ra đó là lỗi của chính họ (VK 1859, S. 3).
68. Thật là phần đáng buồn trong đời sống con người là nỗi khốn khổ, đặc biệt khi nó kèm theo điều gì đó xúc phạm đến công chúng, lan rộng rất mau và tự thích nghi với những lời phóng đại và đồn thổi phiêu lưu về điều đã thực sự xảy ra (VK 1866, S. 20).
69. Nếu ai muốn biết mình thuộc loại tính cách nào, người đó phải tự quan sát mình, xem điều mình thích làm khi ở một mình hoặc khi xa nhà, xem cách mình xử sự trong một môi trường xa lạ. Chính trong những tình huống đó mà con người cảm thấy mình tự do hơn, khiến họ dễ dàng sống thật với chính mình hơn khi sống trong môi trường quen thuộc là nơi mọi người đều biết họ, nơi có nhiều cặp mắt để ý đến họ cũng như có hàng ngàn hoàn cảnh và trách nhiệm quản chế, giới hạn và ngăn cản họ. Do đó, người ta có thể biết rõ một người hơn trong một cuộc hành trình hay ở nơi xứ lạ quê người, khi mà hầu như mọi người bắt đầu xả hơi vì xa khỏi gia đình (RV 1854, S. 385).
70. Bộc lộ lòng can đảm là khích lệ những người khác can đảm (RV 1864, S. 559).
Chương 10
Hôn nhân là một thể chế thánh thiện
được Thiên Chúa thiết lập
1. Ngoài hôn nhân không có mối quan hệ nào khác của con người được bao bọc bởi nhiều sự quan tâm thánh thiện đến thế (MV 1864, H.3, Sp.91)
2. Hôn nhân là một thể chế thánh thiện được Thiên Chúa thiết lập. Vì thế, đôi bạn khi chấp nhận hôn nhân thì cũng chấp nhận một trật tự thánh mà họ phải phụng sự. Rồi họ cũng phải tính sổ với Thiên Chúa về việc họ có trung thành chu toàn hay không, cũng giống như bạn và tôi phải tính sổ với Ngài về việc chu toàn trách vụ mà chúng ta đã tình nguyện chấp nhận (RV 1857, S. 307)
3. Việc cứu độ con người khởi đầu bằng việc phục hưng giao ước đáng trân trọng và vinh dự nhất, thánh thiện và êm dịu nhất, giao ước kết hợp con người trên dương thế, đó là sự phục hưng gia đình (UF. S. 8 f).
4. Tình yêu con người cần có ân sủng của Thiên Chúa để có thể trở nên tình yêu đích thực và để phúc lành của Ngài có thể dựa vào và tác động qua tình yêu ấy (UF. S. 12).
5. Thiên Chúa muốn có mặt tại hôn lễ. Ngài muốn chung vui và nâng cao niềm vui ấy. Nhờ đó hôn nhân có một tương lai hạnh phúc. Những người không mời Thiên Chúa và không xin Ngài cùng dự tiệc, là đã tự gây cho mình sự tổn thất lớn lao không thể bù đắp được mà họ sẽ phải gánh chịu suốt quãng đời còn lại (UF. S. 11).
6. Các Kitô hữu được giáo dục để nhận ra hôn nhân là một tương quan thánh thiện, một nhiệm vụ quan trọng đối với cuộc sống và vì thế là một nhiệm vụ khó khăn, một trách vụ mà người ta chỉ tự nguyện đảm trách sau khi đã nghiêm túc xem xét và đã chuẩn bị cách thích hợp trước mặt Thiên Chúa và loài người (RV 1858, S. 167).
7. Đối với tôi, xem ra hôn nhân giống như một quyển sách phức tạp và sâu sắc chứa đựng nhiều điều khôn ngoan và được dành cho mọi người đọc, nhưng chỉ có một ít người hiểu được nó mà thôi (RV 1857, S. 306).
8. Tình yêu tự biểu lộ bằng cuộc sống cũng như việc làm rộng lượng và huyền nhiệm, vì Tình yêu chính là cuộc sống và việc làm, chứ ít dính dáng tới lời nói (UF. S. 74 f).
9. Quả thật là con người không chỉ có các nhu cầu về thể xác. Thực ra nhu cầu về tinh thần của con người cao cả và sâu xa hơn nhiều, vì linh hồn đáng giá hơn thân xác rất nhiều. Và cũng đúng là hai người phối ngẫu cần quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, không chỉ về phương diện thể lý của đời sống hôn nhân. Thiên Chúa đã tạo dựng con người để họ có thể đạt đến Nước Trời và mong ước rằng con người sẽ sử dụng lương tri và năng lực của mình để đạt đến mục tiêu ấy. Người chồng và người vợ được liên kết với nhau cũng là để giúp nhau trên đường tiến về thiên đường. Do đó, hôn nhân có một mục đích thiêng liêng. Hôn nhân Kitô giáo có ý nghĩa là mỗi người bạn đời hoàn toàn được người kia săn sóc – do đó là một mối quan hệ độc tôn vì sẽ chẳng bao giờ có được giữa những bạn bè đơn thuần – Vì thế, Thiên Chúa đặt hạnh phúc của mỗi người phối ngẫu vào đôi tay, cõi lòng của người phối ngẫu kia. Thật tốt đẹp hơn biết bao khi người chồng ngự trị trong lòng nàng và người vợ ngự trị trong lòng chàng (RV 1859, S. 37 f).
10. Tình yêu hôn nhân là phương tiện – xin lưu ý rằng nó không phải là mục đích – nhờ đó có thể có được mối tương quan đích thực, an bình và hạnh phúc. Không thể có được sự hòa hợp trong gia đình nếu thiếu vắng tình yêu tự hiến, hỗ tương này. Chính sự hòa hợp mới điều khiển, duy trì và gìn giữ cuộc sống của hai người được kết hợp với nhau cách chặt chẽ, nếu không phải là bất khả phân ly. Vì những người phối ngẫu – là nền tảng nhân linh của gia đình – được kết hợp mãi mãi trong tình yêu hôn nhân chứ không chỉ hôm nay hay ngày mai, và vì tình yêu của họ trao cho nhau có ý nghĩa là để gìn giữ và quan tâm đến một điều cao cả và quan trọng hơn, điều cốt yếu là ngọn lửa tình yêu gia đình được chăm sóc sao cho nó không bao giờ lụi tàn hoặc tệ hại hơn là biến mất (RV 1856, S. 21).
11. Điều cốt yếu là ngọn lửa tình yêu gia đình được chăm sóc sao cho nó không bao giờ lụi tàn hoặc tệ hại hơn là biến mất (KP 20.3.1846).
12. Những người thật sự yêu nhau không cho nhau một cách tính toán nhưng cho nhau trọn con người mình. Tình yêu chân thật không biết giữ lại cho mình điều gì cả (KS 2, S. 152).
13. Sánh với Tình yêu Thiên Chúa dành con người thì tình yêu giữa con người, cho dù là tốt đẹp nhất và sáng chói nhất, tình yêu vợ chồng dù có âu yếm và quan tâm đến mấy đi nữa, thì vẫn không hơn gì một ánh lửa mờ nhạt đối với ánh sáng rực rỡ của vừng thái dương (RV 1856, S. 677 f).
14. Chỉ khi con người kết hợp với Thiên Chúa thì con người mới có thể tìm thấy nhau ở trần gian này. Ngay khi con người rời bỏ Thiên Chúa là họ rời bỏ nhau; đồng thời con người mất đi mọi chỉ dẫn về điều ngay chính. Nếu thiếu chân lý thì điều ngay chính không còn nền tảng đích thực nữa (MV 1865, H.4, Sp.115).
15. Khi cả hai người chu toàn ơn gọi đặc biệt của hôn nhân thì hai người tạo được sự kính trọng lẫn nhau và lòng quí trọng những giá trị nội tâm đích thực. Tình yêu tinh tuyền, ngay thật và thâm sâu phát sinh từ lòng kính trọng lẫn nhau đó (RV 1856, S. 21 f).
16. Tình yêu được duy trì khi người này quan tâm đến người kia. Nếu tình yêu trây lì, nếu tình yêu không thể tự biểu lộ liên tục qua việc làm, tình yêu đó sẽ sụp đổ và cuối cùng sẽ chết (KT.1858, S. 228).
17. Trên toàn thể thế giới, chẳng có mối liên kết nào mạnh mẽ hơn là mối liên kết giữa các tâm hồn. Tình yêu được đổi mới mỗi ngày, do bởi mỗi ngày đều sống động giữa hai người, là điều cốt yếu của đời sống gia đình. Chính trong tình yêu sống động này, nơi mỗi người bạn đời tìm thấy hạnh phúc trong hạnh phúc của người kia, giúp cho đôi bạn và sau cùng là gia đình vượt qua những khó khăn của cuộc sống, bằng một sức mạnh vô song, và giúp cho gia đình mỗi ngày một chặt chẽ và mạnh mẽ hơn (RV 1856, S. 22).
18. Tâm hồn hân hoan đáp trả mọi điều được lãnh nhận trong tình yêu (RV 1865, S. 581 f).
19. Nếu muốn tình yêu lớn lên trong mọi thành viên của gia đình thì phải thực hành tình yêu cả trong gia đình nhỏ bé nhất (VK 1854, S. 85).
20. Tình yêu gia đình phải thông phần vào Thiên quốc, phải nhắm đến và cố đạt cho được quê Trời. Hay nói cách khác, mục đích của tình yêu con người, tức nền tảng và hạnh phúc của gia đình, chính là mỗi thành viên trong gia đình cố gắng đưa những người khác đến gần quê Trời hơn. Tình yêu con người cần có ân sủng của Thiên Chúa để có thể trở nên tình yêu đích thực và để phúc lành của Ngài có thể dựa vào và tác động qua tình yêu ấy (FS 1851, S. 11).
21. Nếu chồng muốn vợ là một người vợ rất ngoan hiền thì tự anh ta phải là người chồng lý tưởng đã. Nếu vợ muốn chồng mình trở thành một người chồng lý tưởng thì tự cô ta phải trở thành một người vợ rất ngoan hiền đã. Mỗi người phải đi bước đầu và không bao giờ có ý chờ đợi người kia bắt đầu trước, nếu không cả hai sẽ quá trễ, thật là quá trễ (FS 1851, S. 55).
22. Nếu ai muốn nói về hạnh phúc thì vợ chồng phải hòa hợp với nhau trong tư tưởng, ước muốn và việc làm, nghĩa là họ phải hoàn toàn hiệp nhất với nhau, và chỉ khi đó phúc lành mới có thể đổ tràn xuống trên hai tâm hồn đã nên một (UF. S. 84).
23. Đúng vậy, vợ chồng phải hoàn toàn hiệp nhất với nhau, thậm chí trở nên một, vì cả hai là nền tảng của gia đình, con cái họ tùy thuộc vào cả hai, hai người có những quyền lợi và nghĩa vụ hầu như nhau, cả hai phải tự hướng dẫn lấy mình và gia đình mình đến với Thiên Chúa. Tuy nhiên, chồng không phải là vợ và vợ chẳng phải là chồng. Thiên Chúa đã cố ý tạo dựng hai nhân cách hoàn toàn khác nhau (UF. S. 60).
24. Đôi bạn sẽ rất hạnh phúc khi ý hướng chính của họ là trở nên thật tốt lành và mau mắn cố gắng trở nên tốt. Điều gì tốt cho vợ thì cũng tốt cho chồng. Không thể có sự hòa hợp nếu trống đánh xuôi kèn thổi ngược. Không thể có được thiên đàng, dù là thiên đàng bé nhỏ, nếu sự hiệp nhất giữa hai người không dựa trên công lý cho cả hai: tình yêu là người chị em của công lý (UF. S. 34).
25. Chúa không có ý định cho hôn nhân thánh thiện thành nỗi khốn cùng, nhưng nếu có xảy ra như thế thì chỉ do lỗi của con người ngu dại mà thôi (UF. S. 37).
26. Một cuộc hôn nhân hạnh phúc có nhiều ý nghĩa đối với sự bình an của riêng mỗi người, đối với sự phát triển của gia đình và của quốc gia (RV 1857, S. 723).
27. Những ai xử sự và xem hôn nhân như là một cuộc xổ số thì không được phàn nàn nếu họ không trúng được giải cao (VK 1853, S. 58).
28. Hiếm khi thấy những người có gia đình hạnh phúc nơi quán rượu (MV 1864, H.3, Sp.90).
29. Khi nỗi nghi ngờ xuất hiện thì tình yêu sẽ dừng lại (VK 1856, S. 679).
30. Tình yêu sai lạc là thứ tình yêu người ta chỉ chấp nhận chính mình, chỉ nghĩ đến việc thỏa mãn tư dục, chỉ muốn hưởng thụ và vì thế chỉ nghĩ đến mình, chỉ tin và yêu mến chính mình. Thứ tình yêu ấy không biết hoặc không thấy điều gì khác ngoài đối tượng tình yêu, như người ta vẫn nói thế, và không cố gắng tạo hạnh phúc cho người bạn đời mà chỉ chiếm hữu và hưởng thụ người ấy. Đó quả thực là sùng bái ngẫu tượng và nói nhẹ đi là một thứ tâm bệnh, nhưng thật không may lại thường không tránh khỏi được (UF. S. 90).
31. Nếu tình yêu được xem như là một giao kèo không bó buộc thì hiển nhiên hai vợ chồng là đối tượng chính của giao kèo đó. Theo bản chất mỗi hợp đồng không bó buộc là một thỏa thuận thương mại; bởi thế, hai vợ chồng tự bán mình cho nhau trong một hôn ước như thế. Dù điều này có xẩy ra một cách êm thắm hoặc với những e dè cẩn trọng thì nó vẫn không loại trừ khía cạnh thương mại. Nhưng việc con người tự biến mình, nhân cách của mình thành đối tượng của một thỏa thuận thương mại, một hợp đồng như thế có thực sự là nhân đạo không? Hẳn là không; Kitô giáo vẫn hiểu điều đó trực tiếp đụng chạm đến phẩm giá con người. Tự do hiến mình hoàn toàn cho người mình yêu và tôn trọng người ấy, trung thành mưu cầu hạnh phúc cho người mình yêu, mang gánh nặng của người ấy, sống liên đới suốt đời với người ấy: đó là điều có giá trị, là điều gì đó cao cả và thanh cao vì đó là sự hi sinh đích thực; nhưng ký kết một hợp đồng có điều kiện là điều thấp kém và đáng chê trách. Lại càng thấy đáng chê trách hơn khi một người bạn đời đã dâng hiến cho người kia những điều mà người kia không thể trả lại nếu như hợp đồng đổ vỡ. Tình yêu và sự trung thành không phải là những đồ vật có thể buôn bán, cho, lấy hoặc trả lại. Điều đó có nghĩa là phạm tội ác chống lại bản tính con người (RV 1859, S. 55 f).
32. Hôn nhân dân sự tương phản cách trực tiếp với hôn nhân Kitô giáo đã được Thiên Chúa thiết lập. Hôn nhân dân sự vẫn coi mỗi người phối ngẫu là mục đích chính của hôn nhân đó và hoàn toàn phó mặc mọi hậu quả của cuộc sống hôn nhân vào tay hai người phối ngẫu. . Cụ thể là hôn nhân dân sự hi sinh hạnh phúc của con cái trước các ước muốn ngang ngược của cha mẹ. Như thế, vì cha mẹ không thể hòa thuận với nhau nữa, không thể trung thành, không thích nhau nữa nên họ được phép ly dị, được phép thử lại ở một nơi khác. Con cái, dù có mọi quyền lợi tự nhiên của mình cũng bị hi sinh cho những đam mê của cha mẹ; thực ra cả gia đình bị hi sinh cho những đam mê đó (RV 1959, S. 71).
33. Trong thực tế, chỉ những người ngang nhau mới có thể được kết hợp cách bền vững. Tính cách bình đẳng này đòi hỏi trước hết và trên hết phải có sự nhất trí trong những nguyên tắc tôn giáo và đạo đức (RV 1855, S. 93).
Chương 11
Nguồn gốc nhân loại là ở nơi gia đình
1. Nguồn gốc nhân loại là ở nơi gia đình (FS 1851, S. 46).
2. Gia đình là cha mẹ và con cái, tức là mối quan hệ gần gũi nhất, thân mật nhất và thánh thiện trên trần gian này. Đó là một thể thống nhất sống động do Thiên Chúa thiết lập nên không thể và không được phép bị phân chia hay phá vỡ. Đây là cội rễ và là cái nôi của mọi hiện hữu nhân loại, là nơi có thể khởi đầu mọi phúc lành và hạnh phúc hay mọi nỗi khốn cùng và thất vọng. Nếu con người thực sự có một định mệnh cao cả hơn cuộc sống trần thế, thì định mệnh ấy sẽ phải dựa vào đời sống gia đình. Nếu Kitô giáo phải thực hiện mục tiêu của mình trên trần thế này, thì Kitô giáo sẽ phải quan tâm đến mọi khía cạnh của đời sống gia đình, phải làm được các phép lạ ở đây, là biến nước thành rượu (RV 1859, S. 39).
3. Điều đầu tiên con ngươì thấy được trong cuộc sống và cũng là điều cuối cùng người ta cố gắng đạt được, điều đáng giá nhất mà con người có được trong cuộc đời cho dù người ta không đánh giá đúng mức, điều quan trọng hơn cả trong cuộc sống và do đó đáng được xem xét kỹ càng, đó là điều gì vậy? Hãy đưa mắt nhìn quanh bạn, bạn đọc thân mến, đó chính là gia đình của bạn (FS 1851, S. 46).
4. Mỗi người thấy lòng mình gần gũi với gia đình vì cõi lòng ấy được sinh ra từ gia đình. Và đơn giản như con chim thích ở gần nơi nó nở ra, con người cũng thích ở nơi đầu tiên trong đời cảm nghiệm được trọn vẹn tình yêu trao ban sự sống và là yếu tố quan trọng hơn cả (UF. S. 21).
5. Gia đình có một mục đích mà ai cũng biết là phản ánh đời sống xã hội ở hình thái nguyên tuyền nhất của nó để các thế hệ kế tiếp nhau thực hiện được mục tiêu của mình thông qua nỗ lực kết hợp giữa gia đình và xã hội, trong đó cha mẹ và con cái được nâng lên tới sự hoàn thiện như ý muốn của Thiên Chúa (FS 1851, S. 62).
6. Cuộc sống và lợi ích gia đình thì quan trọng hơn mọi kiến thức của nhà khoa học, mọi tài khéo của các nhà tư tưởng vĩ đại, mọi quyền lực của kẻ có quyền bính (UF. S. 16).
7. Phải chăng trên đời này con người thực sự còn có một mục đích nào tốt đẹp hơn việc kiến tạo hạnh phúc gia đình? Không, đây là nhiệm vụ chung của mọi người, là nhiệm vụ dễ thực hiện nhất và được chúc lành nhất của mỗi người và mọi người trên trần gian này. Vâng, đó thực sự là nhiệm vụ cấp bách và quan trọng nhất của tất cả đời sống xã hội con người (FS 1851, S. 49).
8. Cái gì khiến gia đình trở thành một đơn vị gắn bó chặt chẽ với nhau như thế? Cái gì đem đến cho gia đình niềm hạnh phúc và sự tươi mát như vậy? Cái gì làm cho gia đình có phẩm giá trong những lúc hạnh phúc và được ủi an trong những lúc buồn phiền? Đó chính là tình yêu, linh hồn của gia đình (UF. S. 11).
9. Chúa đã đặt giới răn thứ bốn, giới răn gia đình, lên trên tất cả mọi giới luật nhân bản – tức là giới luật xã hội – là vì hạnh phúc, tiện ích, sự hiện hữu được chúc lành cũng như sự vâng phục các giới luật khác của con người đều tùy thuộc vào sự tuân thủ và quý trọng giới luật đó (FS 1851, S. 10).
10. Trên cõi đời này không có mối quan hệ nào khác của con người lại chặt chẽ bằng mối quan hệ giữa hai bậc cha mẹ và giữa cha mẹ với con cái. Trong mối quan hệ ấy mọi người thuộc về nhau, tuỳ thuộc vào nhau mà vẫn độc lập cách tự nhiên (RV 1854, S. 212).
11. Đời sống xã hội nhất thiết đòi hỏi phải có sự quan tâm và giúp đỡ lẫn nhau (UF. S. 28).
12. Gia đình và hôn nhân là hai mối quan hệ con người giống như dòng suối ở trên núi. Người ta càng múc lấy nước thì dòng suối càng cung ứng (FS 1851, S. 117).
13. Một cộng đồng Kitô giáo cũng trọn vẹn như một gia đình trong đó các thành viên yêu thương nhau cách đặc biệt, hỗ trợ và tăng cường cho nhau bằng mọi cách có thể (RV 1857, S. 515).
14. Một gia đình đúng nghĩa và tốt đẹp thành tâm và chăm chú giữ Đạo hơn ai hết; trái lại, nơi một gia đình đổ vỡ, mọi cố gắng sẽ chẳng đi tới đâu (UF. S. 10).
15. Ngoài mái ấm gia đình không còn một nơi nào khác trên cõi đời mà con người có thể nhận được tình yêu thương tinh tuyền và phong phú đến như thế. Mái ấm gia đình là nơi có rất nhiều những ánh mắt quan tâm để ý đến nhau, có những bàn tay luôn săn sóc cho nhau. Gia đình là nơi mà nền móng cho mọi cuộc sống tương lai của các thành viên được đặt nơi tâm hồn của mỗi cá nhân trong đó (VK 1862, S. 3).
16. Vì Thiên Chúa dùng người nam và người nữ làm cha, làm mẹ, nên họ có vị thế cao nhất và đáng được hưởng vinh dự to lớn nhất trên đời không thể tưởng tượng được (UF. S. 29).
17. Tự bản chất, gia đình không chỉ là một mình người nam hay một mình người nữ, nhưng gia đình được đặt vào tay cả hai người. Cả hai phải cùng chu toàn một nhiệm vụ duy nhất như nhau đối với mỗi người kia và đối với con cái. Và không ai có thể rút lại sự dấn thân của mình mà không phá hủy hay ít ra không làm tổn hại đến công việc của người khác (FS 1851, S. 93 f).
18. Chúa đã ban cho gia đình một mục đích cao đẹp. Và Ngài đã ban cho gia đình mọi phương tiện cần thiết để đạt được mục đích ấy. Bao lâu con người chu toàn phần việc của mình cho mục đích đó, cụ thể là cố gắng trở nên một Kitô hữu tốt, có khả năng, một ky tô hữu toàn vẹn, thì không thiếu gì cả. Chẳng thiếu điều gì ngoài việc trở nên điều mà người ta phải trở thành (FS 1851, S. 118).
19. Gia đình không chỉ sống bằng cơm bánh, không hiện hữu chỉ vì mục đích duy nhất là được nuôi sống. Mục tiêu chính của gia đình là phát triển tình yêu gia đình vì tình yêu là thần trí tác động trong gia đình. Và chỉ có thứ thần trí này mới đem lại ơn ích thánh thiêng cho gia đình hầu củng cố tình yêu theo ý Chúa qua Bí tích Hôn Phối (RV 1856, S. 23).
20. Tình yêu là linh hồn của gia đình (FS 1851, S. 6).
21. Gia đình là nguồn nâng đỡ thực sự cho con người trong đời sống xã hội, đặc biệt trong lúc còn trẻ. Đó là lý do mỗi người đều tùy thuộc rất nhiều vào gia đình, là thứ luôn có một ảnh hưởng không thể phủ nhận được trên mỗi người (FS 1852, S. 21).
22. Thật là món quà tuyệt vời của Thiên Chúa dành cho con người khi trong cuộc sống xô bồ lại có được một nơi gọi là mái ấm; nếu không có được một mái ấm gia đình chắc chắn hầu hết mọi người đều khốn khổ và hư hỏng (VK 1864, S. 3).
23. Người ta có thể quên hết mọi điều vui buồn đã trải qua, nhưng chẳng bao giờ quên được niềm vui thánh thiện của một gia đình đạo hạnh (FS 1851, S. 120).
24. Người được ngồi giữa một gia đình đạo hạnh và vui hưởng sự đầm ấm sau một ngày làm việc vất vả chắc chắn là người hạnh phúc nhất (KT.1851, S. 136).
25. Hạnh phúc trong hôn nhân không tùy thuộc vào tiền bạc hay của cải! Quần áo tốt hay xấu, cao lương mỹ vị hay thức ăn đạm bạc đâu có thành vấn đề. Tiền bạc tự nó không phải là hạnh phúc. Dẫu sao thì hạnh phúc trong gia đình là hạnh phúc thật, và về điểm này ta thấy mọi người đều bình đẳng trong nỗi khát khao có được thể chế tuyệt diệu mà Thiên Chúa Quan Phòng ban cho ta (MV 1864, H.3, Sp.89 f).
26. Bình An trong gia đình là thức ăn tốt và bổ dưỡng làm dịu cơn đói, liên kết hồn xác với nhau, bảo quản sinh lực để dành cho mọi hoạt động có trật tự và lành mạnh. Bình An trong nhà giống như ngọn lửa nồng của lò sưởi, sưởi ấm và chiếu sáng hơn bất cứ ngọn lửa nào trong bất cứ căn nhà nào khác. Bình An trong nhà như một báu vật vô giá, mà tất cả vàng bạc trên thế gian cũng không thể mua được (RV 1858, S. 4).
27. Ơn cứu độ con người khởi đầu từ trong gia đình. Sự chữa lành xuất phát và phải phát xuất từ gia đình vì gia đình là cái nôi của loài người, là thầy dạy đầu tiên của nhân loại. Không có niềm vui nào khác của con người có thể sánh với hạnh phúc gia đình và không có sự khốn khổ nào khác của con người có thể sánh với sự khốn khổ trong gia đình (FS 1851, S. 10).
28. Người được nuôi dưỡng trong một gia đình đổ vỡ thì tất cả điều mà người đó thường học được là sự bất mãn. Với sự bất mãn ấy, anh ta sẽ trả thù đời trong cuộc sống sau này (FS 1851, S. 47).
29. Gia đình có những hận thù lâu dài nhất và hiếm khi tha thứ cho những bất công từ trong chính gia đình (RV 1858, S. 514).
30. Lấy tôn giáo ra khỏi gia đình là giáng cho gia đình một đòn chí tử (FS 1851, S. 96).
Chương 12
Đời sống xã hội
là tấm gương phản chiếu trung thực
đời sống gia đình
1. Hôn Nhân, Gia Đình là tột đỉnh của mọi tương quan con người, nếu xét về tầm quan trọng và niềm vinh dự (MV 1865, H.4, Sp.116).
2. Số phận của gia đình ít nhiều thực sự là số phận của quốc gia (RV 1859, S. 98).
3. Thước đo phúc lợi xã hội, về tinh thần cũng như vật chất, không thể tìm thấy được ở nơi nào khác ngoài gia đình. Đó là một chân lý ngàn đời. Nếu đời sống gia đình triển nở, vững mạnh và tươi vui thì đời sống xã hội cũng được tốt đẹp mọi bề. Tuy nhiên, nếu cuộc sống gia đình đang phân hóa, nếu sự vô luân ngự trị trong gia đình, thì nền tảng xã hội sẽ bắt đầu lung lay và không thể nào tránh được sự khốn khổ cho toàn thể xã hội (RV 1860, S. 718).
4. Điều gì tốt đẹp cho gia đình thì cũng tốt đẹp cho đất nước. Điều gì xấu cho gia đình thì cũng xấu cho quốc gia (RV 1856, S. 35).
5. Hãy vắt óc suy nghĩ bao nhiêu tùy thích về bộ máy chính quyền loại nào là tốt nhất, hãy phát minh ra những luật lệ tinh tế vượt trên mọi luật lệ cổ kính ngàn xưa. Nhưng bao lâu gia đình không hỗ trợ và đem lại phẩm giá cho những mặt khác của xã hội, bao lâu mà đời sống gia đình có năng lực không tạo ra và phát triển các thái độ và chuẩn mực xã hội lành mạnh, bao lâu mà gia đình không khơi dậy cái hồn đem sinh khí đến cho các luật lệ xã hội thì bạn chỉ tốn công vô ích, chẳng khác nào lấy rổ mà gánh nước vậy (FS 1851, S. 47).
6. Không ai trong chúng ta có thể phủ nhận được rằng cuộc sống con người có nguồn cội đầu tiên, sâu xa và tốt đẹp nhất từ nơi gia đình, rằng con người nhận được những nguồn sinh lực đầu tiên, quan trọng và cần thiết nhất từ gia đình mình, và rằng những may rủi trong tương lai của con người có thể truy nguyên từ cuộc sống gia đình. Phúc lợi và những vấn đề xã hội đều phát xuất từ chính nền tảng của xã hội là gia đình. Mọi vấn đề lớn nhỏ trên thế gian liên quan tới phúc lợi của chúng ta đều xoay quanh cái nền tảng gia đình ấy. Do đó đời sống xã hội là tấm gương phản chiếu trung thực đời sống gia đình, bất kể gia đình có thể xem ra bị giới hạn bởi bốn bức tường của ngôi nhà chúng ta đang sống đến đâu đi nữa (RV 1854, S. 2).
7. Đạo đức gia đình và đạo đức xã hội không phải chỉ liên quan với nhau, mà thực ra cả hai cũng chỉ là một thôi. Hạnh phúc gia đình và hạnh phúc xã hội, an lạc gia đình và an lạc xã hội là những tên gọi khác nhau của cùng một thực thể (FS 1852, S. 54).
8. Bao lâu cuộc sống gia đình vẫn chưa được đúng đắn, bao lâu mối tương quan thánh thiện nhất của con người vẫn chưa được tôn vinh đủ, bao lâu cha mẹ và con cái vẫn chưa nhận được một nền giáo dục biết kính sợ Thiên Chúa, thì bấy lâu trong nhiều trường hợp con người vẫn còn là nô lệ của các đam mê của mình, con người sẽ gây nên sự tàn phá, dù cho con người có thể nghĩ ra được hình thái chính thể hay quyền lực nào cho mình sử dụng để thực hiện các giấc mơ về tự do và hạnh phúc của con người (VK 1861, S. 4).
9. Mọi quan hệ bên ngoài xã hội càng lung lay thì chúng ta càng phải xây dựng một tương lai Kitô giáo tốt đẹp hơn bên trong gia đình (VK 1863, S. 5).
10. Gia đình là mối tương quan cơ bản trên cõi đời này, và phúc lợi của mọi quốc gia đều dựa trên nền nếp gia phong thiêng thánh. Gia đình là nguồn mạch của mọi quyền bính đích thực. Không có gia đình, mọi quyền bính khác chẳng bao lâu sẽ biến vào bóng tối hoặc trở nên trò chơi của những kẻ bạo tàn nông nổi. Nếu người ta không còn kính trọng Cha Mẹ mình nữa, thì người ta sẽ chẳng còn bao nhiều điều được quý trọng trên trần gian. Tệ hơn nữa, nếu những quyền tự nhiên của trẻ em bị vi phạm, bị hi sinh cho những đam mê khốn nạn, thì khi lớn lên đứa trẻ sẽ trả thù đời tha nhân và xã hội một cách tệ hại, chính nó sẽ vi phạm thô bạo mọi quyền lợi người khác như người ta đã từng vi phạm những quyền lợi của nó. Vì thế những tội lỗi của gia đình cũng đồng thời là tội lỗi của xã hội mà mọi ngưòi sẽ phải gánh chịu hậu quả (RV 1859, S. 71).
11. Nếu muốn cho tôn giáo biến khỏi cuộc sống xã hội thì chỉ có cách là phá hủy tôn giáo trong đời sống riêng tư, đời sống gia đình. Chính nơi đây, trên mảnh đất gia đình, là thể chế xã hội nền tảng trên trần gian, sẽ xảy ra mọi trận chiến giữa Kitô giáo và phản Kitô giáo. Cũng trên mảnh đất ấy, những xung khắc lớn nhất trong việc hình thành các quyết định sẽ chạm trán nhau. Nếu Kitô giáo là kẻ chiến thắng, nó sẽ chinh phục được mọi lãnh vực đời sống xã hội và sẽ khuất phục mọi thù địch. Nhược bằng Kitô giáo thất bại thì sự vô đạo sẽ ngự trị. Hãy tách nhiều người ra khỏi Thiên Chúa và đức tin như bạn muốn, bạn có thể tạo nên vô vàn khốn khổ trong thế giới này, nhưng bạn sẽ không thể nào đảo ngược thế giới được. Tách các gia đình ra khỏi Thiên Chúa, dập tắt đức tin của các gia đình, trả gia đình về với bốn bức vách trống trải của kiếp người thì chẳng có quyền lực nào trên trần gian có thể ngăn cản sự tàn phá, sự hủy diệt và sự sụp đổ của thế giới xã hội–Kitô giáo. Xin nhắc lại một lần nữa rằng trật tự thế giới Kitô giáo đứng vững hay suy sụp cùng với gia đình Kitô giáo (RV 1865, S. 146).
12. Nếu có người nào làm như thể là vị cứu tinh giải thoát dân tộc mình mà người đó lại xao nhãng hoặc thậm chí khinh thường gia đình mình, thì hãy chắc rằng người đó cũng sẽ phản bội dân tộc mình (UF. S. 10).
13. Những ai phạm tội chống lại hôn nhân thì cũng phạm tội chống lại xã hội, vì thánh luật coi trọng hôn nhân cũng đồng thời chạm đến thần kinh nhậy cảm nhất của xã hội. Do đó, xưa nay người ta luôn phải hối tiếc và trả giá đắt cho mỗi sự lơi lỏng hoặc bóp nghẹt trật tự hôn nhân đã được chấp nhận. Toàn bộ sự khốn khổ xã hội trước đây phần lớn – nếu không phải là tất cả – là do hôn nhân đã bị hư hỏng và vì thế không thể duy trì được phẩm giá chân chính của con người, một khi con người bị tách lìa khỏi Thiên Chúa và chạy theo những dục vọng tùy tiện ích kỷ của mình (RV 1859, S. 35).
14. Nếu chúng ta đã có thể làm cho gia đình trở thành điều Chúa muốn nó trở thành, thì trước hết chúng ta đã cứu vớt được nhân loại, xã hội, cất đi hàng ngàn nỗi khổ đau thê thảm nhất, dập tắt hay ngăn ngừa được vô số những lời than trách, lau khô những dòng nước mắt và không cho có dòng nước mắt nào nữa trong tương lai, tạo nên hạnh phúc khôn lường cho hiện tại và tương lai. Nếu các gia đình chúng ta đã có thể là điều các gia đình phải là thì chúng ta đã lại có những con người hữu ích có thể làm được nhiều chuyện (FS 1851, S. 47).
15. Đời sống công cộng sẽ không bao giờ tìm lại được hạnh phúc hoặc sự tươi vui lành mạnh nếu hạnh phúc tươi sáng đó không được tạo nên trong gia đình; đời sống công cộng sẽ không bao giờ tái tạo được điều gì hữu ích và lớn lao, trừ phi gia đình có thể gieo và nuôi dưỡng được những hạt giống của sự hữu ích và sự cao cả (RV 1854, S. 2).
16. Vì tất cả chúng ta đều muốn là người hữu ích cho quê hương đất nước mình nên chúng ta hết sức quan tâm đến gia đình và cuộc sống gia đình (RV 1854, S. 2).
17. Những người công dân hữu dụng chỉ lớn lên trong những gia đình hữu dụng (GV. S. 11).
18. Người đàn ông xấu trong gia đình sẽ luôn là một công dân xấu tuy rằng hắn có thể tạo ra được nhiều tiếng ồn ào bên ngoài (RV 1860, S. 718).
19. Thiếu tình yêu gia đình đích thực và thiếu đời sống gia đình lành mạnh, đó chính là sự nghèo nàn lớn nhất đối với kẻ sang cũng như người hèn (RV 1859, S. 101).
20. Có người nói rằng giới trẻ chúng ta thiếu giáo dục, nhưng nếu chuyện đó có thật thì là do lỗi lầm của các bậc làm cha mẹ trong gia đình. Nếu gia đình đổ vỡ thì xã hội cũng sẽ tiến dần đến đổ vỡ (RV 1858, S. 655).
21. Không có sự khốn khổ nào lớn hơn việc một người đánh mất sự hỗ trợ của gia đình (FS 1852, S. 22).
Chương 13
Giáo dục là đời sống
và dựa trên cuộc sống
1. Ta chỉ hát được những bài hát ta biết (KT.1852, S. 227).
2. Bản chất của cây xác định loại trái nó sẽ cho là trái ngọt hay trái chua. Cũng thế, đời sống con người chỉ có thể mang hình thái tinh thần mà nó đã sống. Vì tinh thần chỉ có thể sản sinh hoặc tái tạo chính nó. Vì thế sự khờ dại không thể tạo ra sự khôn ngoan, sự yếu nhược chẳng tạo nên được sức khỏe, dục vọng không thể sản sinh niềm vui chân chính và cao thượng hơn, đam mê không tạo ra được an bình. Sự khước từ Thiên Chúa và đức tin không thể dẫn ta đến mục đích mà Thiên Chúa và đức tin ghi khắc trong con người (UF. S. 93).
3. Cha mẹ giống như những cuốn sách sống mà con cái nên và phải học trong đó (RV 1854, S. 213).
4. Không có mối tương quan nào êm dịu và sâu xa hơn mối tương quan giữa cha mẹ và con cái. Người mẹ và người cha sẽ mãi là người mẹ và người cha cho đến ngày họ đến trước tòa phán xét. Họ là những người lẽ ra có thể nhắc nhở và nhớ mọi điều cần thiết để dạy dỗ con người (MV 1865, H.4, Sp.116).
5. Giáo dục là đời sống và dựa trên cuộc sống. Nhưng cuộc sống không thể được viết ra trong một cuốn sách hay được rút gọn thành một công thức. Cho dù cuộc sống có những luật lệ và có thể rút ra những kết luận từ những luật lệ ấy, thì mọi kết luận, luật lệ, pháp luật và công thức vẫn không phải là chính cuộc sống (RV 1854, S. 211).
6. Nơi nào việc giáo dục trẻ em được quan tâm thì khía cạnh quan trọng nhất không phải là trẻ em nhưng trước hết và trên hết là những người đang thực hiện việc giáo dục ấy theo lẽ tự nhiên. Thiên Chúa và lề luật qui định rằng trẻ em phải được giáo dục bởi những người đã sinh ra chúng, tức bởi những người làm cha làm mẹ, vì giáo dục tự nó là cuộc sống. Cha mẹ tái tạo chính mình và vì thế dạy dỗ theo cách của riêng mình (RV 1854, S. 212).
7. Tất cả con cái đều có quyền đối với cha mình vì người ấy là cha, đối với mẹ vì người ấy là mẹ, đối với cả hai người vì họ là một đôi không thể tách rời. Quyền đó là quyền tự nhiên, có tính Kitô giáo và không thể chối cãi. Con cái nhận sự sống từ cha mẹ mình, nhưng nó không thể nào là sự sống hoàn hảo, đã phát triển và độc lập mà là sự sống cần được giúp đỡ và đòi hỏi có sự chăm sóc cũng như giáo dục liên tục. Cha me, phù hợp với quyền tự nhiên theo tinh thần Kitô giáo, không thể tránh né bổn phận quan tâm chăm sóc và giáo dục con cái về thể xác cũng như tinh thần, và không có quyền lực nào trên thế gian có thể miễn trừ cho họ được. Chính họ, những bậc làm cha mẹ, thuộc về con cái của họ, vì họ đã trở thành cha mẹ vì lợi ích của chúng (RV 1859, S. 67).
8. Con người, là tạo vật đáng nói được tác thành do bởi tình yêu của hai người, nên con người cần được sống trong tình yêu thương để phát triển trên cõi đời này, giống như cá cần có nước để sống vậy (FS 1851, S. 82).
9. Những điều tốt đẹp nhất đã xảy đến cho con người đều có liên quan đến mọi người sống xung quanh trong thời thơ ấu, những vui thú đầu tiên trở về với những ngày tháng đầu đời của mình. Niềm vui lớn nhất và tấm bằng tốt nhất cho tương lai của bất kỳ con người nào là gốc gác của người đó nơi một gia đình đáng kính và tốt lành, cho dù có nghèo hèn đi nữa. Sau đó, cuộc sống chỉ có thể xây dựng và phát triển những mầm mống mà một nền giáo dục tốt đã ghi khắc trong con người, chứ không có thể cho người đó điều mà đáng lẽ họ đã phải nhận từ gia đình (MV 1864, H.3, Sp.87).
10. Bạn hãy là hình ảnh của tình yêu thánh thiện trong môi trường sông của bạn, từ đó bạn sẽ xây nên những lâu đài biết ơn nơi tâm hồn con cái bạn và không gì có thể tàn phá những lâu đài đó được (UF. S. 80).
11. Dẫu sao, đúng là bất kỳ nền giáo dục nào cũng phải có mối tương quan đúng đắn với mục tiêu mà nền giáo dục đó nhắm tới (RV 1857, S. 322).
12. Giáo dục diễn ra trong cuộc sống thực tế, trong công việc và việc làm vốn có mối tương quan với nhau, vì thế việc giáo dục chủ yếu là trách nhiệm của các bậc cha mẹ, cho dù không phải là tất cả. Một đứa trẻ sẽ mãi cần đến cha mẹ cho dù nó có thể đi đến tận chân trời góc bể, và một cách vô thức, nó vẫn luôn cố gắng mô phỏng đời sống của cha mẹ nó. Cha mẹ sẽ dưỡng dục con cái theo cùng một cách mà họ đã được dưỡng dục, đứa trẻ sẽ nhìn xem thế giới qua đôi mắt của cha mẹ chúng, và phán đoán của cha mẹ sẽ hướng dẫn đứa trẻ (RV 1854, S. 212).
13. Nếu một người dấn thân thực sự cho niềm tin của mình, người đó sẽ thông truyền niềm tin ấy cho tất cả những người mà người đó tiếp xúc (UF S. 85).
14. Thiên Chúa, Chúa chúng ta, đã tạo dựng con người để hưởng Nước Thiên Đàng, vì thế các bậc cha mẹ phải dưỡng dục con cái để chúng hưởng Nước Thiên Đàng (FS 1851, S. 117 f).
15. Một đứa trẻ, theo tự nhiên, không chỉ có quyền đối với mẹ, mà còn có quyền đối với cha của nó nữa, và không chỉ là quyền riêng biệt đối với cha hay đối với mẹ, mà còn là quyền không thể phủ nhận đối với cả cha lẫn mẹ như những đấng sinh thành, là một cặp riêng biệt và bất khả phân ly. Đứa trẻ nhận sự sống từ hai người, vì thế nó cần được săn sóc cả về tinh thần lẫn thể xác và cần có được con người đích thực của nó – tức nền giáo dục Kitô giáo – từ ở hai người (RV 1859, S. 39).
16. Tâm hồn năng động hơn trí óc nhiều và thích làm điều nó thích. Trí óc càng ít hoạt động thì con người càng sống theo gương bày trước mắt. Do đó, trẻ em giống như những con khỉ, muốn bắt chước mọi điều chúng thấy người khác làm. Đối với chúng, những lời dạy bảo có giá trị chính là gương sáng, vì thế các bài giảng và những lời trách móc sẽ chẳng ích gì nếu gương bày lại hoàn toàn trái ngược. Con tim bắt đầu sống và yêu mến ngay từ giây phút nó bắt đầu đập. Và bất cứ nơi đâu con tim loài người năng động cùng tràn đầy tình yêu, nó đều muốn hít thở bầu khí tôn giáo linh thiêng, vì linh hồn, chủ yếu hoạt động trong tâm hồn, vẫn tự nhiên khao khát Chúa. Do đó một đứa trẻ, theo lẽ tự nhiên, nhận được những tâm tình mộ đạo từ một người mẹ sùng đạo. Con người tiếp nhận chính tôn giáo từ Thiên Chúa vì con người được tạo dựng theo hình ảnh Ngài. Nhưng con người dấn thân cách tích cực vào tôn giáo là do những hoạt động tôn giáo của người mẹ, người ít nhiều là một với con mình (UF. S. 75 f).
17. Không phải chỉ do dễ xiêu lòng mà người ta không phụng sự Thiên Chúa và con người (UF. S. 95).
18. Nếu người mẹ gieo cấy hạt giống sùng đạo linh thánh vào trong tâm hồn non trẻ của đứa con hầu như ngay từ lúc đứa bé được sinh ra, vì tâm hồn con trẻ thuộc về người mẹ, nếu người mẹ nhóm lên tia lửa trong tâm hồn con, tia lửa ấy sẽ ăn sâu vào cõi sâu thẳm nhất, và thế gian hẳn phải mất nhiều cố gắng để tiêu hủy tâm hồn ấy. Ôi, này các bạn là những bậc làm cha mẹ, thật là một đầu tư quan trọng biết bao! Vì thế, các bạn hãy sớm bắt đầu làm cho con cái các bạn có lòng mộ đạo (KT.1851, S. 132 f).
19. Đức Tin, Kitô giáo nơi mỗi con người chúng ta, là món quà của Thiên Chúa và là ánh sáng từ trên cao mà chúng ta không thể trực tiếp đón nhận hoặc chuyển giao, vì thế Thiên Chúa đã trù liệu từ khi con người còn nằm trong nôi. Nhưng sự quan tâm của chúng ta chính là sao cho những quà tặng của Thiên Chúa không bị uổng phí và cuối cùng bị mất đi, ánh sáng không bị dập tắt, mà cả ánh sáng lẫn quà tặng vẫn sống động và có thể tăng triển (RV 1858, S. 696).
20. Chắc chắn đây là nhiệm vụ của chúng ta, cũng như chúng ta được kêu gọi để bảo vệ và phát triển điều tốt lành trong mỗi đứa trẻ đồng thời tránh xa chúng những điều xấu và không có lợi (RV 1861, S. 484).
21. Mối bất hòa, những lời khiển trách hay cãi nhau chẳng đưa ai đến với Chúa cả. Con người hẳn không buộc phải dự phần vào bất cứ điều gì mà tâm hồn mình không dính dáng tới.
22. Chẳng phải là chính những bậc cha mẹ hay giận dữ thông đạt và truyền sự giận dữ hoặc sự bực bội của họ cho con cái đó sao? Dẫu sao chỉ có thể bào chữa cho họ một cách yếu ớt bề ngoài về những điều đó mà thôi. Do vậy, sự giận dữ và bực bội của cha mẹ để lại hậu quả thật cay đắng nơi đứa trẻ đến nỗi gương mặt giận dữ của nó, sau khi bị đối xử bất công như thế, chính là phản ánh gương mặt giận dữ méo mó của cha mẹ nó không hơn không kém. Vậy chẳng phải cha mẹ dễ cáu giận, nên suy nghĩ hời hợt và bất công, đã là một công cụ khiến đứa trẻ chống lại công lý tự nhiên của con người, và còn dạy cho nó cách đối xứ cách bất công với người khác đó sao? (RV 1856, S. 230).
23. Lý do đa số con người được đào tạo thành người có loại nhân cách như hiện nay có thể được tìm thấy trong thời kỳ đầu phát triển lúc còn trẻ. Vì thế ta nên biện hộ hơn là phàn nàn về con người, nhưng điều quan tâm chính của chúng ta – tôi xin phép được nhắc lại – là sự giáo dục của cha mẹ, những người dạy dỗ con cái. Điều sống còn, rất hệ trọng là cha mẹ phải được nhắc nhở về những bổn phận quan trọng của họ, về công việc thiết yếu thuộc trách nhiệm của họ, và chính họ nên đảm nhận việc dạy dỗ sớm hầu có thể biết mình phải làm gì. Bao lâu các bậc cha mẹ chưa sống động, là những hình ảnh thực sự của Thiên Chúa, bao lâu mà toàn bộ việc họ làm hay chối bỏ chưa phản ảnh ý muốn của Thiên Chúa, và họ chưa có thể chỉ cho con cái biết phải sống, phải suy nghĩ, nói năng và hành động như thế nào mà không cần phải giảng giải nhiều lời, thì nền giáo dục của chúng ta vẫn còn khập khiễng ở cả hai phía và sẽ chẳng bao giờ đạt được kết quả mong muốn (RV 1856, S. 231).
24. Không có được một tuổi trẻ mộ đạo, hạnh phúc, không biết kính trọng cha mẹ mình, chắc chắn đó là nỗi khốn nạn lớn nhất trên cõi đời này (RV 1858, S. 152).
25. Không bao giờ bạn được đối xử với một đứa trẻ cách tệ hại hơn như khi bạn đối xử với một tội nhân trước sự xét xử của các quan tòa (RV 1856, S. 213).
26. Nếu sự xấu xa trong con người bộc lộ ra bên ngoài, nó có thể lây lan dễ dàng, cũng như sự tốt lành, nếu được phô diễn cách tự do và thoải mái thì có thể cải thiện và tôn quí môi trường. Như tôi đã nói, con người không nhận lấy điều tốt hay điều xấu từ gương bày, vì mầm mống thiện ác đã có sẵn trong bản tính con người rồi. Nhưng gương bày có thể làm nẩy sinh những hạt giống và con người học biết thực tại tốt xấu từ gương bày (RV 1856, S. 247).
27. Những ai muốn bảo vệ những con người trẻ khỏi bị gió độc quá mức, gần như đối xử với chúng như một cây non khi đặt chúng vào lồng kính, sẽ hủy diệt chúng ngay từ đầu, vì sau này người trẻ sẽ không thể chịu nổi những cơn gió mạnh và thường là dữ dội của cuộc sống (RV 1856, S. 246).
28. Ngày nay, nếu có một vị giáo sư uyên thâm nào đó lại tin rằng văn phạm Hi ngữ và bảng thập phân không có chút liên hệ nào với ý thức hệ, thì vị đó sẽ khiến cho những đồng nghiệp của ông nhạo cười lắm do lời tuyên bố trên. Vâng, nếu những bảng thập phân, văn phạm Hi ngữ và hàng trăm những điều khác nữa mà tự học được thì chẳng thành vấn đề ai là người cầm phễu và ai là người đổ nước; nhưng vì việc người giảng dạy nắm giữ ý thức hệ là quá rõ ràng, trong loại bài học nào không thành vấn đề lắm, nên trên thực tế bài học và sự giảng dạy nhất thiết có liên can với ý thức hệ lại là điều cực kỳ quan trọng (RV 1863, S. 195).
Chương 14
Những ai muốn được lòng người
phải biết thế chấp lòng mình
1. Những ai muốn được lòng người, hãy để lòng mình lại làm tín vật. Tấm lòng, tình yêu chân thật phải được chứng tỏ bằng việc làm. Tình yêu chân thật được nhận biết qua sự trung thành và được đánh giá qua việc làm chứ không phải bằng những lời hứa xuông. Tình yêu hy sinh vì chính nghĩa sẽ chinh phục được nhiều tâm hồn hơn. Tình yêu càng cụ thể và vô vị lợi, thì sự chinh phục càng chắc chắn và bền lâu hơn. Tình yêu này là nguồn mạch của thứ quyền bính mà lòng người sẵn sàng chấp nhận, vì quyền bính ấy chỉ đem lại lợi ích cho tâm hồn. Những ai muốn có, muốn nắm giữ quyền uy, cách công khai hoặc kín đáo, bằng bất cứ phương tiện nào khác là kẻ không hiểu bản tính con người và tính chất đích thực của quyền bính. Những mối dây kiên kết yêu thương huyền nhiệm và mạnh mẽ nhất mà con người có được, liên kết và lưu giữ các tâm hồn lại với nhau (VO 1850, S. 22).
2. Những kẻ không thực sự yêu ai vì người ấy, thì không có quyền đòi hỏi tâm hồn của người khác. Nếu ai đó không đạt được quyền bính bằng những phương cách đó hoặc không xứng đáng được quyền hành cùng với quyền bính do Chúa trên trời ban cho, thì người ấy sẽ không nhận được và cũng chẳng giữ được quyền bính (VO 1850, S. 23).
3. Mọi người đều được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa nên đều đáng được tôn trọng (VK 1854, S. 2 f).
4. Bản tính con người có những nhu cầu xã hội mà nó cố gắng thỏa mãn bằng cách này hay cách khác. Chính vào lúc muốn một điều gì đó vượt quá sức mạnh và sự hiểu biết riêng của mình mà con người phải liên kết với người khác (RV 1855, S. 92).
5. Con ngưòi không thể chịu đựng được sự cô độc, sống riêng một mình. Bản chất con người đòi hỏi người ta phải liên kết với người khác và do đó phải khước từ tự do tuyệt đối (VO 1850, S. 14).
6. Con người cùng thăng tiến nếu con người biết chia sẻ niềm vui nỗi khổ với nhau (RV 1854, S. 186).
7. Tình yêu là nguồn suối nhiệm mầu của quyền bính, nhưng tình yêu có tính tương tác và đòi hỏi thực hành (RV 1858, S. 104)
8. Nếu biết hiến tặng tâm hồn mình, thì bù lại người ấy sẽ dễ dàng đón nhận người khác (VO 1850, S. 23).
9. Cuộc sống đích thực khác hẳn với bất cứ điều gì có thể ấn định được. Con người phải học biết cách đối xử với người khác (KT.1852, S. 129).
10. Cần phải có được chữ Tín là nền tảng của mọi việc làm (KS 2, S. 107).
11 Kẻ chinh phục được lòng người quả là người giàu có thực sự. Điều này còn áp dụng cho cả đời sống chính trị nữa (RV 1859, S. 317).
12. Sự chuyển giao giữa các tâm hồn và trí tuệ là những huyền nhiệm êm ái trong cuộc sống, nhờ đó người ta có thể lôi cuốn, nâng đỡ và chinh phục con người. Người ta sẽ biết cách chuyển giao nếu người ta thật sự lưu tâm đến người khác (KS 2, S. 138).
13. Lan tỏa niềm vui và hạnh phúc, thoải mái và bình an mới thực sự là điều tốt đẹp và hạnh phúc nhất mà con người có thể đạt được trên cõi đời này (KT.1858, S. 228).
14. Những tâm hồn hạnh phúc dễ dàng rộng mở và hiểu biết lẫn nhau (RV 1857, S. 2).
15. Lòng người cần có niềm ủi an và niềm vui đích thực. Niềm vui cũng là bác ái và chắc chắn không phải là điều nhỏ bé nhất (VK 1851, S. 6).
16. Tình bạn chân chính phải là một cộng đồng những người tốt lành đạo đức, vì những người bạn đích thực là một gia đình thiêng liêng và vì thế có sự hòa hợp trong tâm hồn và trở nên một (VK 1852, S. 124 f).
17. Người bạn chân thật sẽ cổ vũ mọi điều tốt, còn người bạn xấu sẽ khuyến khích mọi điều tệ hại (RV 1854, S. 186).
18. Này bạn, chúng ta là những người bạn đích thực, vì chúng ta không chỉ dùng thời gian và vui thú với nhau; mà chúng ta còn chia sẻ những giờ khắc nghiêm trọng, còn có thể nói chuyện cởi mở, chân thành và thoải mái về những ý kiến và thái độ của mình (KS 2, S. 218).
19. Chúng ta có thể tăng cường lẫn cho nhau vì mục tiêu mà chúng ta không thể đạt được một mình (MV 1863, H.1, Sp.21).
20. Chẳng phải là chúng ta sẽ giúp đỡ lẫn nhau khi cần thiết và có thể cũng như chia sẻ niềm vui cho nhau nơi nào có thể đó sao? Thế giới đã u tối và buồn thảm đủ rồi và có rất là quá ít nơi con người có thể cảm thấy thoải mái như ở nhà. Nếu đã tìm ra một nơi như thế, con người phải biết yêu mến và trân trọng nơi đó suốt quãng đời còn lại của mình (KS 2, S. 300).
21. Những niềm vui nho nhỏ mà chúng ta nhận được từ một tấm lòng thân thương, như là tín vật nhỏ bé của tình bạn chân thật và thiện chí chân thành, đem lại cho chúng ta nhiều điều tốt lành và không xẩy ra thường xuyên lắm đâu. Vâng, người ta thật sự cần phải chia sẻ cơ may, càng thường xuyên càng tốt, để làm một điều gì đó tốt lành cho tâm hồn và lan tỏa chút niềm vui. Điều đó làm tươi mát và thắp sáng cuộc đời hơn là nếu chúng ta bỏ qua cơ hội mỗi ngày để rồi phải dùng hết năng lực hầu đền bù lại nơi các tâm hồn nguội lạnh (KS 2, S. 367).
22. Phương thuốc tốt nhất đối với một tâm hồn buồn sầu vẫn là an ủi và yêu thương người khác, vì người ta cảm thấy những nỗi đau riêng của mình dịu đi khi chia sẻ những nỗi đau của người khác (VK 1852, S. 20).
23. Thật đáng buồn cho chúng ta biết bao nếu tất cả hi vọng của chúng ta phải dựa trên những người khác (KS 2, S. 232).
24. Con người đặc biệt cần đến tình bạn chân chính và tình yêu Kitô giáo vào những lúc khủng hoảng trong cuộc đời, khi mà kẻ đau buồn chỉ đối mặt với sự khốn khổ hoặc ít ra mọi sự dường như chỉ là sự khốn cùng đối với người ấy. Con người bị thương tổn tin rằng mình chỉ có những kẻ thù, rằng không ai quan tâm đến họ nữa và vì thế tâm hồn họ có thể dễ dàng trở nên cay độc và tràn đầy nỗi tức giận chống lại đồng loại của mình. Có lẽ người ấy chẳng bao giờ thoát được những tình cảm này trong suốt quãng đời còn lại, nếu không có được một tình bạn chân chính và tình yêu Kitô giáo đã nói ở trên (RV 1858, S. 488).
25. Làm sao để có thể nhận ra một hiểu biết đích thực? Rõ ràng nó được nhận biết nhờ vào cách thức giá trị và ý nghĩa được gán cho các sự vật mà ta phải sử dụng và phán đoán. Những ai biết và chấp nhận giá trị đúng đắn cùng ý nghĩa của mỗi sự vật thì có được nhận thức ấy (UF. S. 97).
26. Những chân lý sơ đẳng sẽ phải được lặp đi lặp lại thường xuyên khi cần thiết, để chúng đi vào nơi sâu thẳm nhất của cõi lòng ta và ở lại đó mãi mãi (FS 1851, S. 94).
27. Khi người ta đến tuổi tứ tuần, người ta không còn lo nghĩ về những điều đã gây ra bao ưu phiền thực chẳng đáng gì cả trong thời trai trẻ. Con người càng sống nhiều năm thì càng ít quan tâm đến mọi thứ hào nhoáng đã một thời được cho là rất quan trọng (KS 2, S. 151).
Chương 15
Yêu thương nhau
là nghĩa vụ quan trọng nhất
của Kitô giáo
1. Hãy làm việc lành bất cứ lúc nào có thể, bất luận địa vị xã hội của người mà bạn giúp đỡ. Những ai cần đến sự giúp đỡ mà bạn có thể đáp ứng sẽ trở nên người láng giềng của bạn.
2. Tâm hồn rộng mở khi trao ban và nhiệm vụ lớn lao của thời đại chúng ta là giữ cho tâm hồn rộng mở (RV 1863, S. 22).
3. Kitô giáo không giới hạn trong nhà thờ hay trong các nhà tĩnh tâm, mà là cho mọi lãnh vực của cuộc sống. Không có một điểm nào, một lãnh vực nào, không một mối tương quan sống đơn độc nào mà không thể hoặc không nên được phán định bởi những nguyên tắc Kitô giáo. Ý nghĩa cao cả nhất và cách diễn đạt gọn nhất cho mọi nguyên tắc này có thể được tìm thấy nơi giới luật yêu thương mới: «Hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi trên hết mọi sự, và hãy yêu thương cận nhân như yêu thương chính mình». Tính chất tổng quát của hai giới răn yêu thương này chỉ ra rằng người ta phải tuân giữ chúng mọi nơi và trong mọi việc ta làm, cho dù việc làm đó có thể không đáng kể đến đâu đi nữa. Phúc Âm dạy ta rằng: «Hãy làm cho người khác như bạn muốn họ làm cho bạn». Tất cả cuộc sống của chúng ta đều dựa trên luật ấy (RV 1857, S. 479 f).
4. Lời nói và tâm tình cảm thông đều đáng ca ngợi nhưng chúng không phải là hành động; Lời nói và tâm tình thông cảm làm người ta hài lòng trong chốc lát, còn hành động cảm thông thì không bị hủy diệt và tồn tại mãi mãi (KS 2, S. 6).
5. Con người phải trở nên hoặc cố gắng trở nên yêu thương như Thiên Chúa (RV 1859, S. 760).
6. Có điều cũ như trái đất nhưng vẫn không được hiểu biết cho đến khi Đấng Cứu Thế mang nó đến ngay trước mắt: đó là yêu thương phải thống trị thế giới và chỉ có yêu thương mới có đủ thẩm quyền để trở nên sức mạnh thống trị (RK 1850, S. 2).
7. Kitô giáo không hệ tại ở những lời nói xuông mà là ở những việc làm sống động. Thế giới sẽ trở nên một nơi tốt đẹp hơn nhiều nếu người ta đã thực thi tinh thần Kitô giáo với nhau, làm những việc tốt lành cho nhau và xa tránh sự dữ (KS 2, S. 159).
8. Tôn giáo sống động này không chỉ cống hiến những chỉ dẫn cho cuộc sống của mỗi cá nhân mà còn thông ban cho tâm hồn một lượng hơi ấm nào đó hướng tới tha nhân. Hơi ấm cao thượng hơn này của tâm hồn cần phải tràn đầy để lan tỏa tới và sưởi ấm cho tha nhân, được gọi là tình yêu, là đức ái Kitô giáo đối với tha nhân. Tình yêu càng phong phú thì tâm trí càng sung mãn, ảnh hưởng của tình yêu càng lan xa thì công việc của nó càng lâu bền và mãnh liệt. Tình yêu có mối liên hệ trực tiếp với lòng đạo đức, cho nên thật chính đáng khi đánh giá lòng đạo đức bằng mức độ của tình yêu. Nơi nào thiếu hụt hay vắng bóng tình yêu, thì không thể có được sự chữa lành, vì chưng chỉ có tình yêu Kitô giáo chân chính, chỉ có tâm hồn Kitô hữu mới có được đặc sủng chữa lành nơi cõi đời này. Tất cả chúng ta đều biết và hiểu rằng tình yêu không hệ tại ở lời nói và không thể được thay thế bằng các bài giảng, bằng những lời quở trách, hình phạt hay sự phủ nhận được (RV 1858, S. 676).
9. Chúng ta phải thực thi tình bác ái chân thật với nhau vì chúng ta là những người Công giáo. Tình yêu Kitô giáo chân thực xuất phát từ đức tin này sẽ, nên và phải chinh phục được thế giới nghèo đói, đau khổ này. Bất cứ sự gì kém cỏi hơn tình yêu này đều bất lực và vô dụng. Các ý thức hệ chính trị có thể sụp đổ nhưng xã hội cần đến Kitô giáo sống động, và xã hội càng đau khổ thì càng cần đến Kitô giáo; và không có gì chối bỏ Kitô giáo lại có thể tồn tại được (RV 1863, S. 38).
10. Mọi người Công giáo chân chính đều sẽ vui lòng hỗ trợ để duy trì và bảo đảm rằng mọi người đều có được đầy đủ các quyền lợi của mình, vì châm ngôn của công lý vĩnh cửu là «Hãy yêu người cận thân như chính mình» thì vẫn tươi tắn trong Giáo lý Công giáo ngày nay như vào lúc chính Đấng Cứu Thế thốt ra câu châm ngôn đó (RV 1858, S. 794).
11. Chúng ta có lý khi nói rằng mọi việc bác ái, mọi sự giúp đỡ chân chính và hữu hiệu đối với người nghèo đói và đau khổ đều phải dựa trên nền tảng Kitô giáo và phải được thực hiện theo những nguyên tắc của Đạo, vì Kitô giáo dạy và buộc chúng ta phải có tình bác ái (RV 1854, S. 395).
12. Yêu thương nhau là nhiệm vụ quan trọng nhất của Kitô hữu vì tình yêu ấy không thể tách rời khỏi tình yêu Thiên Chúa được (KS 1, S. 62).
13. Niềm tin vào Thiên Chúa đã duy trì niềm tin của chúng ta nơi người khác, bất chấp sự khốn cùng của họ. Chúng ta càng thực hành niềm tin thì đức tin của chúng ta càng lớn mạnh (FS 1854, S. 3).
14. Trước hết và trên hết Kitô giáo phải được minh chứng trong những hoàn cảnh khổ đau. Chẳng có một nhân đức Kitô giáo nào mà không biết sống bác ái như thế nào (VK 1855, S. 146).
15. Cuộc đời của mỗi con người đều có biết bao cơ hội làm điều lành. Người ta thường không nhận ra những cơ hội đó cho đến khi đã quá trễ (KS 2, S. 6).
16. Chính chúng ta là những người tội lỗi và phải ứng xử với những người tội lỗi, vì thế chúng ta đáng được hưởng lòng bác ái khi chúng ta thực thi đức bác ái (KS 2, S. 203).
17. Chúng ta sẽ thực hiện được công việc cao quý nhất cho nhân loại nếu chúng ta có thể xúc tiến Kitô giáo ngay giữa những người láng giềng của mình (RV 1859, S. 777).
18. Không có bài giảng nào được rao giảng trên đường phố tốt hơn, âm thầm hơn nhưng lại hùng hồn hơn cho bằng việc có người quan tâm phục vụ một anh em đồng loại chịu đau khổ. Càng âm thầm, càng hữu hiệu (RV 1863, S. 418).
19. Các Kitô hữu Công giáo của chúng ta có nhiều điều phải học để làm việc lành, để dấn thân trong đức ái Kitô giáo; và họ cần phải đem ra thực hành điều mà họ đã học được (RV 1863, S. 36).
20. Tình yêu phải tự biểu hiện nơi việc làm sống động và trong chân lý, trong mọi lãnh vực của cuộc sống chứ không chỉ một đôi nơi mà thôi. Tình yêu cần đến được với mọi người vì có can hệ đến phần rỗi đời đời cũng như đến hạnh phúc trần thế của mọi người (RV 1857, S. 515 f).
21. Từ nguyên thủy, con người gắn liền với cứu cánh vĩnh hằng của mình. Nhưng Tạo Hóa đã đặt con người vào trong mối tương quan mật thiết với đồng loại, để người đó chủ yếu thuộc về nhân loại một cách tự nhiên và phải chu toàn các bổn phận trần thế của mình giữa và trong tương quan với người khác. Loài người và thế giới thuộc về người ấy và người ấy thuộc về những người khác: mối quan hệ hỗ tương này không thể bị coi thường nhưng là điều kiện chủ yếu cho cuộc sống thịnh vượng của con người. Một Kitô hữu không chỉ biết điều này, nhưng còn biết rằng mình phải yêu thương cận nhân, những người mà mình có thể với đến được, như yêu thương chính mình, vì điều đó là thành phần của giới răn yêu thương của Thiên Chúa. Bất kỳ người Kitô hữu đích thực nào cũng chu toàn đời sống bằng cách làm việc lành, dịu dàng yêu thương săn sóc đồng loại; tình yêu tích cực hi sinh cho đồng loại chứng tỏ có cố gắng nỗ lực để có được lòng đạo đức. Chúng ta gọi đó là những việc bác ái Kitô giáo, là bằng chứng công khai duy nhất của lòng nhân (RV 1859, S. 759 f).
22. Tâm hồn đạo đức chân chính không mong làm những việc lành để tự an ủi mình nhưng là để phụng sự đồng loại. Những việc làm tốt lành thực sự luôn gắn liền với sự hi sinh của mỗi con người, nếu không chúng không đáng được gọi tên như thế (RV 1858, S. 708).
23. Nếu muốn được yêu thương và hưởng lòng bác ái, chính mỗi người phải trao ban và làm những việc đó (VK 1853, S. 92).
24. Người không cần được yêu thương và giúp đỡ thì chính người ấy sẽ không trao ban điều gì cả (RV 1856, S. 21).
25. Không thể có tình yêu nếu không có hi sinh (RV 1863, S. 556).
26. Khi những người tham dự được đem đến gần nhau hơn, cho dù vào lúc đầu họ có thể xa cách nhau đến đâu, và được nối kết lại trong tình bạn vào lúc cần phải có sức mạnh hợp tác để hoàn tất công việc, thì đó cũng là kết quả của những việc lành chung với nhau trong Kitô giáo (RV 1856, S. 433).
27. Sự hi sinh đích thực là nguồn mạch diệu kỳ của niềm vui chân thành, hiếm khi cảm nhận được (VK 1851, S. 75).
28. Người ta thường lười biếng và vô tình hơn là nhẫn tâm và người ta thường khá hạnh phúc bao lâu còn khá sung túc. Chắc hẳn sẽ là tốt đẹp, nếu lễ Giáng Sinh, khi Thiên Chúa ban cho con người món quà lớn nhất của Ngài, có thể được biến thành một lễ bác ái Kitô giáo đích thực giữa con người với con người trên trái đất này; và người ta không chỉ đem lại niềm vui cho con cái và bạn hữu của mình, mà còn mang niềm vui tới cho những người hầu như đã thế chỗ của Ngài, tới những người mà Đấng Cứu Thế đã ban cho những quyền lợi của Ngài (RV 1855, S. 807).
Chương 16
Chắc chắn không thể làm vừa lòng mọi người
1. Cố gắng trở nên hữu ích cho người khác thì tốt hơn là chỉ làm vừa lòng họ; thà đôi khi gây bực bội còn hơn là gây nguy hại; thà khiến người ta phải đau đầu kỳ lạ trên cõi đời này còn hơn là để tâm hồn họ phải chịu đau đớn đời đời (RV 1855, S. 4).
2. Cảm tạ Thiên Chúa là từ lâu tôi đã được chữa lành khỏi «bệnh ngu ngốc», nếu căn bệnh ấy đã làm tôi đau khổ khi muốn làm vừa lòng mọi người, khi chẳng bao giờ muốn làm phiền lòng ai; dẫu sao tôi tin chắc chắn rằng con người không ở vị trí nào tốt hơn và không thể làm điều gì hay hơn là khi có được một số kẻ thù nào đó công khai và rõ ràng (RV 1854, S. 4).
3. Chắc chắn là không thể làm vừa lòng hết mọi người trong mọi lúc được (RV 1865, S. 521).
4. Bạn không thể làm cho ai chạy được nếu người đó còn chưa có thể đi được (KT.1852, S. 127).
5. Những ai trung thành làm việc bổn phận của mình thì có thể thành công trong việc làm cho người khác cũng trung thành làm việc bổn phận của họ (RV 1855, S. 101).
6. Chính mình không có kiên nhẫn thì không thể mong chờ sự kiên nhẫn nơi người khác (RV 1856, S. 6).
7. Chỉ có kẻ kiêu căng mới không thể chấp nhận những lời khuyến cáo thân tình (MV 1865, H.2, Sp.38).
8. Ai muốn nói sự thật với người khác thì người đó phải có thể tự mình chấp nhận sự thật trước đã (RV 1855, S. 699).
9. Đừng bao giờ hứa hẹn những điều lớn lao cho dù bạn có thể giữ lời hứa. Không hứa hẹn gì cả nhưng tiếp tục công việc thì tốt hơn là ta tưởng (KS 2, S. 201).
10. Đừng bao giờ nên phớt lờ hoặc coi thường một kẻ thù, cho dù kẻ thù có thể xem ra yếu kém đến đâu đi nữa (RV 1856, S. 246).
11. Những người không chia sẻ Niềm Tin của chúng ta thường đáng được chúng ta yêu mến hơn nhiều (KT.1853, S. 96).
12. Không có gì dạy dỗ tốt hơn và đem lại hiệu quả lớn hơn là gương sáng hằng ngày. Nhưng đôi mắt con người không tránh khỏi việc cố gắng tìm kiếm những phần thưởng cho công việc họ làm, những thứ nuôi sống các ước vọng của tâm hồn họ (RV 1858, S. 782).
13. Người ta nên tập sống cao thượng khi cần thiết và sẽ được tưởng thưởng xứng đáng (RV 1864, S. 475).
14. Người ta thường phải trả giá đắt, vì thế hoàn toàn có giá trị hơn, để có được món quà đáng giá là để ý trong việc đối xử với người khác (FS 1853, S. 153 f).
15. Người ta sẽ chẳng bao giờ tin tưởng thật sự nữa người đã một lần làm cho người ta thất vọng (FS 1851, S. 66).
16. Thật dễ nghi ngờ nếu kẻ khác không thể tự biện hộ (KS 2, S. 417).
17. Có nhiều người xem ra thích chí với những điều bất hạnh và yếu kém của người khác và họ đặc biệt để mắt dòm ngó vào những hoàn cảnh bất hạnh đó. Không nên nghe lời những kẻ như thế và chắc chắn không nên để ý đến họ (RV 1858, S. 530).
18. Chúng ta dễ dàng bỏ qua những lỗi lầm nơi người mình thích và bỏ qua những điều tốt đẹp nơi người mình không ưa (VK 1851, S. 46).
19. Những người không biết đến chân lý chỉ chạy theo những mục tiêu ích kỷ và thích được tâng bốc; còn những ai tìm kiếm vinh quang Thiên Chúa thì chắc chắn có thể làm việc mà không màng đến sự tâng bốc đáng kinh (RV 1857, S. 461).
20. Không có dấu chỉ nào về sự băng hoại chắc chắn hơn là một người chìm đắm thấp hèn đến độ không thể làm được điều gì khác ngoài việc nhạo cười những điều đối với người khác là thánh thiện (KS 2, S. 272 f).
21. Người nào càng ít quan tâm đến tôn giáo thì càng cay độc hơn đối với những người vẫn đang dấn thân cho tôn giáo (RV 1858, S. 17).
22. Những người luôn gây ra những đám cháy lớn hẳn rất có ý cho cháy những ngôi nhà láng giềng của họ, cho dù họ có vắng mặt cách nào đi chăng nữa; nhưng chẳng ai có thể kiểm soát nổi cơn gió, và nó có thể dễ dàng đổi hướng đưa ngọn lửa về trên mái nhà của họ (RV 1859, S. 382).
23. Đừng đặt bẫy trên đường đi của người hàng xóm.
24. Nếu có ai cố đánh cắp chân lý của người khác hoặc phản bội người khác bằng việc làm ấy, thì kẻ đó sẽ làm lung lay và tàn phá nền tảng tinh thần của linh hồn con người, sẽ lấy đi chuẩn mực đúng đắn duy nhất để phán đoán mọi sự, phân biệt đúng sai, và cũng sẽ cướp đi của con người điều kiện đầu tiên và cần thiết nhất cho mọi thái độ công bằng và ngay thật (RV 1863, S. 295).
25. Một số người đã trở thành trộm cướp, lường gạt và côn đồ vì họ đã bị người khác gán cho nhãn hiệu ấy từ lâu trước khi họ thực sự trở thành tội phạm (RV 1857, S. 500).
26. Bất cứ khi nào tham gia một công việc nào đó, tất cả chúng ta đều muốn đóng góp ý kiến và có tiếng nói. Một trong những vấn đề xã hội phổ biến nhất là người ta đều có nỗi ước mong là một nhân vật, có thể thống trị và bá chủ. Đó là vấn đề căn nguyên của nhiều vấn đề khác (RV 1856, S. 675).
27. Không ai thật sự được giúp đỡ nếu chỉ giúp đỡ họ về vật chất mà thôi (MV 1865, H.4, Sp.99).
28. Chân lý tất nhiên là thẳng thắn, gần như thô thiển và không được ưa thích lắm. Người giàu thích chí khi người nghèo được nói cho biết sự thật, và người nghèo hài lòng khi người giàu được biết chân lý. Thị dân có thể mỉm cười khi các nông dân bị mắng chửi và các nông dân chẳng hề khó chịu chút nào nếu câu chuyện khởi đầu về các thị dân. Đa số con người không thích chân lý nếu chân lý có liên quan đến chính họ (RV 1856, S. 3).
29. Đối với tâm trí tôi thì tài ngoại giao là phẩm chất tệ hại nhất trên thế gian, trong khi đó thì sự cởi mở chân thành và thẳng thắn lại là đòi hỏi đầu tiên đối với bất kỳ người nào mà tôi có quan hệ (RV 1854, S. 1).
30. Tất cả chúng ta đều có rất nhiều lý do để bào chữa. Bao lâu những lời bào chữa là chuyện cơm bữa thì cái bao đựng lời bào chữa là cái bao không đáy (KT.1858, S. 227).
31. Tất cả chúng ta đều là những kẻ đại, đại ăn xin trước mặt Thiên Chúa, chúng ta chìa tay xin Chúa thương xót ban ơn mỗi ngày, chúng ta rất thường xuyên cần đến Chúa và cần Chúa nhiều đến nỗi chắc phải được phép kêu gọi lòng bác ái của con người nhân danh Ngài, và đang khi gõ cửa, chúng ta đụng đến những chiều sâu của tâm hồn. Sự liên kết của những người tốt nhất nhân lên mười lần sức mạnh của họ. Cho đến nay sự dữ đã thành công đến thế là vì nó giáp mặt với từng người trong khối đồng lòng ấy (RV 1855, S. 235 f).
32. Tôi có thực sự được phép yên lặng chỉ vì chân lý có thể làm tổn thương không? (FS 1851, S. 95).
33. Đa số các ủy ban câu lạc bộ được thiết lập gồm toàn những người giống nhau, và không phải vì những người này tự đề cao mà vì những người khác không được chuẩn bị để chia sẻ trách nhiệm (RV 1865, S. 258).
34. Những sự việc không gây ra bất cứ rắc rối hay lo âu nào khiến người ta chẳng bao giờ phải quan tâm nhiều đến chúng thì sẽ không bao giờ gần gũi với lòng người. Những sự việc đó không làm hài lòng bằng một nửa những công việc mà người ta phải thật sự làm việc vất vả. Nếu tổ chức Khôi Bình phải trở nên gần gũi với tâm hồn bạn, thì bạn sẽ phải chấp nhận rắc rối và lo âu vì nó (RV 1855, S. 190).
35. Thật đáng khen ngợi khi con người không vất bỏ tất cả sau khi đã phạm lỗi lầm, nhưng vẫn tìm kiếm một lối đi tốt hơn và bắt đầu lại với sự trợ giúp của Thiên Chúa (RV 1854, S. 79).
Chương 17
Thế giới không thể hợp nhất
nếu không có đức tin và lòng trông cậy
1. Thế giới không thể hợp nhất nếu không có đức tin và lòng trông cậy (RV 1856, t.662).
2. Vì mỗi người cần đến người khác, nên nhân loại là một khối thống nhất (RV 1856, t.12).
3. Thiên Chúa đã không tạo dựng thế giới cho riêng một người nào nhưng là cho nhiều người. Họ phải cùng sống với nhau thành cộng đồng. Một mình, con người không thể nào tự đáp ứng những nhu cầu hàng ngày của mình; con người cần được người khác giúp đỡ và phải tìm đến đồng loại (MV 1859, H.4, Sp.113).
4. Chúng ta tin rằng đời sống xã hội không có nghĩa là tự giúp mình nhưng là giúp đỡ lẫn nhau, rằng nó có nghĩa là một cuộc sống cho nhau chứ không phải là một cuộc sống chống lại nhau. Nhưng điều đó chỉ có thể xảy ra trong mảnh đất Kitô giáo vì chỉ có Kitô giáo mới có thể đem lại những qui tắc chắc chắn và hữu dụng. Mọi thứ khác cơ bản là nghịch với xã hội và do đó hoàn toàn phi chính trị (RV 1865, t.587 tt).
5. Con người chúng ta không thể sống mà không tin nhau. Một khi lòng tin bị lung lay thì một trụ cột quan trọng của xã hội chúng ta sẽ bị sụp đổ (RV 1856, t.659).
6. Tất cả chúng ta đều tự nhiên được nối kết vào đời sống xã hội như một dây xích; ngay cả khi các nhóm thân hữu, đồng nghiệp hình thành như những xã hội riêng thì vẫn không thể nào bẻ gẫy nổi những mắt xích ấy. Tóm lại tất cả chúng ta đều ít nhiều cần đến nhau, và dù cho chúng ta có phản đối thế nào thì niềm vui và nỗi khổ vẫn luôn là những kinh nghiệm chung. Chúng ta có thể cảm nghiệm những điều đó với những người thân cách sâu sắc hơn là với những người ngoài. Tuy vậy chúng ta cũng sẽ cảm thấy cùng vui cùng buồn với cả những người không thân. Do đó, vấn đề phúc lợi xã hội và những vấn đề xã hội đều liên quan đến tất cả chúng ta, đều mang một khía cạnh cộng đồng và có tính cách chung đối với xã hội (RV 1864, t.34 tt).
7. Mỗi người đều cảm thấy – cho dù người đó có thể không giải thích được – rằng nếu không có công lý thì đời sống xã hội và đời sống con người không thể tồn tại được, và loài người sẽ trở nên cộc cằn man rợ. Do đó, công lý là tặng phẩm cao quý nhất đối với trật tự luân lý của con người và của thế giới (RV 1859, t.546).
8. Không có tình yêu chân thật nếu không có công lý và không có nền công lý chân chính nếu không có tình yêu chân thật (RV 1856, t.216).
9. Hậu quả của việc khước từ nền công lý thánh thiện và vĩnh cửu là sự sụp đổ của nền công lý trần thế của loài người (RV 1856, S. 776).
10. Thứ được gọi là tự do có thể chỉ là chế độ chuyên quyền nếu không có công lý. Lịch sử của tất cả các cuộc cách mạng bạo động cho thấy nhiều bằng chứng về điều này. Tự do chân chính, phục vụ vô vị lợi không bao giờ mang tính bạo lực, vì sự thiện hảo thì đúng đắn và chỉ có thể hiện hữu trong công lý (RV 1859, S. 551 f).
11. Trở nên công chính có nghĩa là nên giống Thiên Chúa; phẩm giá con người tăng hay giảm tùy thuộc vào lòng yêu chuộng công lý của người đó (RV 1859, S. 547).
12. Chỉ có chân lý, công bình và sự thiện hảo mới có quyền được duy trì bền vững. Chỉ có những thứ ấy mới cần và có thể được bảo vệ cũng như quan tâm. Vì chỉ có chân lý, công bình và thiện hảo mới có thể đem lại phúc lành chân thật và công ích thêm nữa. Mọi cái giả dối, xấu xa và bất công, dù có hào nhoáng đến đâu, cũng chỉ là điều chóng qua và chỉ dẫn tới sự khốn khổ mà thôi (RV 1858, S. 804).
13. Công lý vẫn luôn là công lý cho dù nó ủng hộ kẻ thù xấu xa nhất của tôi, và công lý sẽ chẳng mất đi chút quyền lực nào cho dù nó ủng hộ một kẻ có vẻ lừa đảo (RV 1860, S. 394 f).
14. Chỉ có công lý mới có thể ban tặng tự do và sự hợp pháp đích thực, nhưng công lý đến từ Thiên Chúa và dựa trên lương tâm tôn giáo. Một dân tộc công chính biết tôn trọng công lý cũng biết tôn trọng luật pháp. Luật pháp mà không có công lý chỉ là một chế độ chuyên quyền (RV 1863, S. 73).
15. Công lý là nền tảng của danh dự và vì thế người ta tự nhiên rất sẵn lòng tôn trọng và ca ngợi công lý. Nhưng việc thực thi công lý đòi phải có chân lý vì công lý không thể đi vào cuộc sống thực tế nếu không có chân lý. Ở đâu thiếu vắng chân lý và dường như chân lý lẫn lộn với lỗi lầm và dối trá, do đó mới chỉ hiểu được một phần con người, thì không thể nào thực thi được công lý đích thực và trọn vẹn (RV 1859, S. 681).
16. Điều mà người ta coi là công lý, nhất là thứ công lý của riêng mình, thì người ta sẽ sử dụng đi sử dụng lại và sẽ tranh đấu cho bằng được, dù phải vất vả đến đâu. Không gì khiến người ta phiền muộn hơn, làm tổn thương sâu xa hơn, gây ra nỗi ác cảm lâu dài hơn là uốn cong hoặc bẻ gãy những quyền tự nhiên hay mặc nhiên của người ấy. Ngay cả trong trường hợp người ta không chấp nhận hoặc tích cực tác hại đến quyền của người khác thì người ta cũng sẽ cố gắng hết sức bảo vệ quyền của riêng mình và nhờ đến nền công lý chung trợ giúp một khi các phương tiện và sức riêng đã cạn kiệt. Ngay đến một kẻ bất công nhất cũng lợi dụng quyền của mình mọi nơi và mọi lúc. Tóm lại, bản tính con người, và như vậy toàn bộ xã hội loài người, đều được xây dựng trên chân lý và công lý (RV 1856, S. 273 f).
17. Không có gì có thể gây oán thù tệ hại hơn là sự đè bẹp chân lý trong đời sống cá nhân và quốc gia.
18. Chân lý đích thực thường có đặc tính khó chịu là khuấy động những thói quen cố hữu. Chân lý không trở cờ đón gió, không bàn nào cũng ăn, không ghế nào cũng ngồi, hôm nay không quên điều đã nói hôm qua, … không ngạc nhiên chút nào nếu như có một số người cảm thấy khó chịu vì sự hiện diện của nó, cũng giống như một ít người cảm thấy bực bội khi nhận ra bức hình Đức Trinh Nữ Maria từ đàng xa. Như vậy chân lý hiếm khi được nhiều người lắng nghe (RV 1856, S. 3 f).
19. Chúa Cứu Thế đã diễn tả tự do chân chính và đích thực như là hoa trái của sự thật vĩnh cửu – thứ sự thật giải thoát con người! Nơi nào người ta phớt lờ sự thật vĩnh cửu này, nơi đó tự do có thể chỉ là một biểu hiện méo mó và sẽ biến mọi người thành nô lệ. Tự do giả tạo dẫn tới hậu quả là giải thoát những đam mê, và nơi đâu những đam mê không bị kềm che, thì tự động sẽ luôn kéo theo tình trạng nô lệ. Nói cách khác, tự do mà không có chân lý vĩnh cửu là thứ tự do không công lý, mà tự do không công lý là, hoặc sẽ trở thành, tự do của chế độ chuyên chế. Đấy là điều gì đó trong đời sống chính trị cũng như phi chính trị, trong đời sống cá nhân và xã hội mà ta phải suy nghĩ (RV 1864, S. 586).
20. Tự do là con đường huyết mạch của mọi mối tương quan tự nhiên, của mỗi con người tự do. Không có tự do, người ta không thể phát triển và rút cục là không thể hiện hữu được. Mọi vật có quyền hiện hữu – xin lưu ý – mọi vật Thiên Chúa an bài, đều có quyền sống và phát triển theo cách mà bản chất của vật ấy đòi hỏi, tức là có quyền sống trong tự do và có được tự do để trở nên điều mà bản tính và nhiệm vụ đòi hỏi. Chủ nghĩa tự do thánh thiện này cũng nên là chủ nghĩa tự do của con người.
21. Tự do, như là suy tư của lý trí, là quà tặng của Thiên chúa và phải được sử dụng cách phù hợp, nghĩa là phải được sử dụng theo ý Chúa. Sử dụng cách khác đi là lạm dụng và không bao giờ có thể đúng đắn được cả. Xin nhắc lại, mọi điều thực sự đúng đắn đều có nguồn mạch nơi Thiên Chúa và điều nào không xuất phát từ nguồn mạch này thì không bao giờ và chẳng bao giờ có thể đúng được. Do đó, không thể phủ nhận tôi có quyền sống theo ý Chúa, và không có sức mạnh nào trên trần gian này có quyền cản trở tôi thực thi quyền của mình hoặc ép buộc tôi làm bất cứ điều gì chống lại ý Chúa là lề luật đúng đắn nhất trên thế gian. Đó là thứ tự do biểu lộ đích thực và chân thật. Mọi thứ tự do khác thực chất đều là giả dối và phi pháp (RV 1865, S. 116 f).
22. Những giáo huấn sai lạc rút cục bao gồm những thứ tự do lầm lạc luôn hướng tới bạo lực hung tàn. Thật đáng buồn khi thấy có quá nhiều người lầm lạc biết bao khi họ không thể hoặc không muốn nhìn ra, cả khi đã có cả ngàn lần kinh nghiệm (RV 1865, S. 150).
23. Đời sống xã hội với nhiều nhánh phân chia của nó dựa vào một trật tự đúng đắn và phải được luật pháp bảo vệ và bênh vực cách thích đáng (RV 1856, S. 172).
24. Những ai nghĩ là có thể giản lược đời sống thực vào một công thức toán học thì chẳng hiểu gì về đời sống thật cả. Họ sẽ bất ngờ gặp rào cản khắp nơi, sẽ thấy những tính chất ưu việt của họ luôn bị trở ngại và thay vì mang lại điều lành, họ chỉ gây khốn khổ và bối rối nếu họ cố gắng áp đặt các lý thuyết một chiều của mình trên đời sống thật. Đó là lý do tại sao có nhiều tư tưởng rất có ý nghĩa đối với quốc gia đã không thể áp dụng được trong thực tế (RV 1856, S. 49 f).
25. Tôi không điên đến độ tin rằng con người có thể nghĩ ra điều gì đó, cho dù đó là sáng kiến khôn ngoan nhất, có thể làm cho mọi người hạnh phúc hay ít nhất có thể cải đổi con người. Ngay như Kitô giáo cũng không biến cải được hết mọi người, chỉ đơn giản vì Kitô giáo không muốn can thiệp vào sự tự do chọn lựa của mỗi cá nhân (MV 1863, H.1, Sp.7).
26. Đối với một quốc gia thịnh vượng thì không gì tệ hại và tàn phá hơn là sự đơn điệu lạnh lùng, chết chóc của một đất nước rộng lớn mà trong đó con người không được quyền tưởng tượng. Hạnh phúc của một quốc gia dựa vào khả năng của mỗi cá nhân, vào các đức tính tôn giáo và dân sự. Tương lai của đất nước ấy không tùy thuộc vào điều gì cho bằng tuỳ thuộc vào một giới trẻ có khả năng. Nhân loại không phải là một khối chết chóc có thể được chuyển hóa qua các quá trình hóa học. Sự diệt vong của nhân loại diễn ra chậm chạp và đều đặn, bất kỳ những cải tiến nào cũng đều diễn ra chậm chạp nhưng chắc chắn như thế (VO 1850, S. 16).
27. Những ai đem con người ra khỏi môi trường tự nhiên của họ, rồi để mặc họ tự giải quyết những vấn đề của mình, thì sẽ tiêu hủy họ mãi mãi (FS 1853, S. 156).
28. Căn bệnh xã hội không thể tự nó lành được. Căn bệnh ấy có nguyên nhân từ những sai lầm của xã hội trước đây và nếu những căn ngyên ấy không được loại trừ thì những sai lầm ấy sẽ gây ra đau khổ (RV 1854, S. 508).
29. Luật yêu thương thì chặt chẽ, nghiêm ngặt và vượt trội hơn mọi luật lệ và quyền khác của con người. Cố gắng biện minh cho hành vi trái với luật yêu thương ấy vì rằng luật trần gian cho phép hành vi đó thì đồng nghĩa với việc đặt công việc trần thế ra ngoài khuôn khổ của Kitô giáo và nền tảng của nó là luật yêu thương (RV 1857, S. 498 f).
Chương 18
Phúc lợi công cộng
dựa vào khả năng cá nhân
1. Đúng, thế giới đã tạo nên sự phân chia đời sống – với sự trợ giúp của Chúa và thể theo thánh ý Ngài – thành một lãnh vực nặng tôn giáo và tinh thần và một lãnh vực nặng trần thế và hữu hạn, tuy nhiên hai lãnh vực đó không hề thù nghịch nhau. Không lãnh vực nào có thể hiện hữu và hưng thịnh trong một bầu khí tách biệt hoàn toàn. Cả hai lãnh vực đều cần phải có cùng một quan điểm, cùng một hướng xuất phát do ý muốn chủ đạo. Về căn bản chúng có chung một căn nguyên cho công việc của mình và cần phải hoạt động cho mục tiêu chung (RV 1859, S. 21).
2. Vì rất khó tìm ra biên giới đích thực giữa thân xác và linh hồn trong con người đang sống (sự liên kết hồn xác là một sự ràng buộc mầu nhiệm) và vì thế cũng khó mà quyết đoán hoạt động nào của con người chỉ liên quan tới linh hồn và hoạt động nào chỉ liên quan tới thân xác. Trong đời sống xã hội, cũng khó mà tìm ra ranh giới rõ ràng giữa Giáo hội và xã hội. Có một số mặt rất gần gũi với nhau, hầu như hòa lẫn với nhau đến mức không thể tách chúng ra mà không gây xung khắc và vì thế chúng phải cùng hiện hữu trong khối thống nhất tự nhiên đồng thời bổ túc cho nhau (RV 1859, S. 22).
3. Phúc lợi tổng thể của xã hội không dựa trên sự giàu có của các cá nhân mà dựa trên các khả năng riêng của từng người thuộc đại đa số công dân (RV 1860, S. 702).
4. «Phúc lợi tổng thể» không chỉ có nghĩa là gia tăng mức sống tổng thể vật chất, mặc dù chúng ta không loại trừ điều này, mà trước hết và trên hết còn có nghĩa là gia tăng các tiêu chuẩn luân lý phổ quát là yếu tố cần phải có để hỗ trợ, đem lại giá trị và ý nghĩa cho sự giàu có về vật chất (RV 1860, S. 700).
5. Những kẻ phạm tội chống lại các nguồn tài nguyên trên trái đất này, không chỉ phạm tội với Thiên Chúa là Chủ Tể và là Đấng Tác Tạo của mọi sự giàu có ấy, mà còn phạm tội chống lại tha nhân, chống lại xã hội nữa (RV 1859, S. 467).
6. Chân lý Kitô giáo thực sự, tức chân lý không thể sai lầm, là: mọi nguồn tài nguyên của trái đất này, cũng như mọi thứ khác mà con người làm chủ, đều phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng đã không trao ban những nguồn tài nguyên đó cho con người hoàn toàn, để con người có thể trở nên chủ tể và chủ nhân ông mọi sự vô điều kiện; mà Ngài chỉ cho con người mượn, chỉ ủy thác chúng cho con người quản lý, nghĩa là Thiên Chúa có thể lại lấy chúng đi bất cứ khi nào Ngài muốn. Sớm muộn gì thì ngày phán xét cũng sẽ đến (RV 1855, S. 692).
7. Nếu con người không cáng đáng được vuông tròn, không biết tổ chức, thì cũng không ích lợi gì cho dù tài nguyên có từ trên trời rơi xuống đi chăng nữa (RV 1857, S. 748).
8. Vâng, Thần Khí chính trực là và vẫn sẽ là điều chính yếu. Nơi nào thiếu vắng Thần Khí, mọi sự sẽ chỉ còn là lớp vỏ lạnh lẽo và chết chóc mà trong đó không ai cảm thấy thoải mái như ở nhà mình. Tuy nhiên, người ta không thể truyền lệnh hay ra chiếu chỉ cho Thần Khí, càng không thể làm ra Thần Khí. Tinh thần được tạo dựng, và Đấng Tạo Dựng của tinh thần, được gọi là Thần Khí chính trực, là và sẽ là Thiên Chúa duy nhất của chúng ta ngự trên trời (RV 1858, S. 621).
9. Ttrong một quốc gia, một gia đình hoặc ngay cả trong một cá nhân, không thể có sự toàn vẹn nếu không có quyền bính. Quyền bính, dù gì được giành lấy nhờ tình yêu tự thể hiện qua sự trung thành và tận tâm chu toàn những bổn phận của mình, không cách gì có thể mua được quyền bính (FS 1852, S. 165)
10. Mỗi cộng đồng nếu muốn tồn tại cần có cơ cấu, nhưng không có cơ cấu cộng đồng nào có thể được duy trì nếu không có sự tham gia cần thiết của từng cá nhân vào mọi lãnh vực của đời sống cộng đồng hoặc nếu không có sự tùng phục tự nhiên đối với một quyền bính cao hơn. Nhưng dứt khoát cần phải có một tổ chức tự nhiên và lành mạnh (MV 1864, H.3, Sp.67).
11. Chính phủ đã nhận được mệnh lệnh từ Thiên Chúa không chỉ để công bố luật lệ mà còn để bảo vệ luật lệ khỏi mọi tấn công bất chính (RV 1859, S. 548).
12. Hò hét ra lệnh nhiều chỉ làm suy kém quyền bính và sự tuân phục. Dẫu sao thì quyền bính là quyền lực sống còn trước hết và trên hết trong đời sống cộng đồng. Ở đâu có quyền bính, cần có và nhất thiết phải có quyền bính đích thực. Quyền bính và tuân phục là điều kiện cho đời sống chung được thịnh vượng. Nó tùy thuộc vào ai là người nắm giữ quyền bính, quyền bính ấy thuộc loại nào và người ta đã đạt được quyền bính ấy bằng cách nào (VO 1850, S. 22).
13. Bao lâu không thay đổi chính mình nên người tốt hơn, thì người ta sẽ thấy những đổi mới bề ngoài là vô ích (RV 1859, S. 637).
14. Quyền bính và sức mạnh thuần túy bề ngoài không thăng tiến được con người. Nhưng điều chủ yếu đối với hòa bình và an toàn cho thế giới là con người phải thăng tiến (RV 1858, S. 74).
15. Bớt quyền lực đi và tăng thêm quyền lợi thì tốt hơn làm khác là vòng vo, vì quyền bính mà không có quyền lợi thì cuối cùng chỉ là chuyên chế, là thứ chế độ từ xưa đến nay vẫn luôn tự đào mồ chôn mình (RV 1863, S. 123).
16. Chỉ có tranh chấp, dùng bạo lực để bắt người ta thi hành bổn phận, là xúc phạm đến tâm hồn và bóp chết tự do (RV 1856, S. 263).
17. Những người không bao giờ vi phạm quyền lợi của ai, loại trừ sự dữ tận gốc rễ, sử dụng luật lệ tốt đẹp một cách khôn ngoan mà nghiêm minh, kêu gọi thiện chí của người khác, cởi mở đón nhận sự góp ý hơn là ra lệnh, chính họ sẽ cai trị thế giới này mà không gặp khó khăn gì (VO 1850, S. 19).
18. Nếu tự do bị bóp nghẹt thì sức mạnh con người cũng sẽ bị tiêu hủy luôn. Nếu danh dự không được kính trọng đúng mức thì nhân cách cũng bị hủy diệt (VO 1850, S. 24).
19. Tự do giả hiệu và chế độ chuyên quyền là hai chị em song sinh (RV 1863, S. 357).
20. Chính trị không phải là khoa học của ước mơ mà là khoa học của sự khả thi. Sau cùng thì đó là khoa học hữu ích nhất miễn là nó hoạt động trong vòng pháp luật (RV 1864, S. 361).
21. Sự ngay thật sẽ sống thọ hơn cả. Lời cổ nhân này không chỉ có giá trị trong đời thường mà còn có giá trị đối với đời sống chính trị nữa (RV 1863, S. 667).
22. Cuối cùng thì sự cởi mở và trung thực sẽ tồn tại lâu dài nhất; trong chính trị cũng thế (RV 1865, S. 637).
23. Những người luôn đứng về phía ngay chính mới thực là những người hỗ trợ cho tự do và, nói một cách nghiêm túc, không thể thuộc đảng phái chính trị nào, vì luật pháp cũng như quan tòa phải đứng trên chính trị đảng phái (RV 1858, S. 776).
24. Trong đời thường và cả trong chính trị, tỏ ra quá khôn lanh chắc chắn là một sai lầm tệ hại. Một con gà quá khôn lanh thường đẻ trứng bên ngoài ổ hoặc cả trong bụi gai, và mọi nông dân có kinh nghiệm đều biết chuyện gì sẽ xảy ra sau đó (RV 1858, S. 217).
25. Chân lý cũng cổ xưa như trái đất nhưng tôi không có ý nói rằng các nhà chính trị đã lưu ý nhiều đến điều đó (RV 1856, S. 586).
26. Mọi lời hứa của tình hữu nghị và thiện cảm ít có ý nghĩa trong thế giới chính trị là nơi chỉ những kẻ mạnh mới chiến thắng (RV 1858, S. 524).
27. Tôi luôn biết chỗ đứng của mình đối với một người không có hoặc không cần tôn giáo và tôi có thể xử sự cách thích hợp; nhưng phải làm gì đây đối với một người, có thể là ai đi chăng nữa, chỉ được phép giữ đạo của mình chốn tư riêng chứ không được phép ở nơi công cộng, chỉ có thể cầu nguyện với Thiên Chúa trong phòng riêng hay ở trong nhà thờ chứ không thể thực hiện những đòi hỏi thực tế của tôn giáo mình nơi công cộng, người có khi còn được yêu cầu ủng hộ điều đối nghịch với những gì mà đức tin Kitô giáo của người ấy đòi hỏi. Tất cả những điều trên, thưa các bạn, tôi xin nhường cho các bạn suy nghĩ. Còn tôi, tôi tin đó là sự chuyên chế đối với lương tâm, và điều đó sẽ khiến con người thành hèn nhát, giả dối và đê tiện trước mặt Thiên Chúa và loài người. Một quốc gia không tôn giáo cần có những người dân vô tôn giáo, vì chưng quốc gia do dân tạo nên và được biểu trưng bởi dân. Đó phải chăng thực sự là những điều kiện lý tưởng cho con người? (RV 1865, S. 85).
28. Chẳng bao lâu nữa những điều cổ kính sẽ bị hạ bệ, nhưng phải mất một thời gian dài và nhiều nỗ lực để xây dựng một điều gì đó mới mẻ; chúng ta tin rằng đó là một kinh nghiệm đã được minh chứng rõ ràng (RV 1856, S. 437).
29. Thiêu hủy những đất nước xa lạ, bóp chết tự do, đánh thức những đam mê nơi kẻ xấu, sử dụng sức mạnh chống lại mọi cái không phù hợp với mình thì dễ hơn nhiều đối với việc hành động trong trật tự, pháp luật và công lý (RV 1860, S. 412).
30. Những gì phải lấp liếm, chống đỡ bằng những lời dối trá và những sự phô trương, chỉ nguyên vì những lý do này, là bẩn thỉu và xấu xa (RV 1860, S. 299).
31. Thế giới có lẽ đã không thể được cai trị bằng những mưu mô xảo quyệt, hay bằng bạo lực, hoặc bằng tiền bạc hay bằng những thủ đoạn khôn lanh (RV 1857, S. 491).
32. Cuộc cách mạng, thích tự kêu mình là «vị cứu tinh» của thế giới, chẳng có cách nào khác để chọn lựa ngoài các phương tiện đã được sử dụng để đạt được mục tiêu của mình (RV 1859, S. 587).
33. Sự cuồng tín không đặc biệt gì lắm trong việc chọn lựa các phương tiện của mình (RV 1864, S. 581).
34. Trái tim con người không thể được biến cải bằng lưỡi lê (KT.1852, S. 231).
35. Sự đối nghịch không thể bị xóa bỏ bằng cách phản đối nó (RV 1860, S. 140 f).
36. Bài bản cũ rích của cách mạng là tỏ ra đầy lòng thương hại đám đông quần chúng đau khổ lúc bắt đầu thời kỳ hỗn loạn và phóng đại những đau khổ có thật hoặc được tưởng tượng ra – tạo ra những oán trách chính đáng và cả không chính đáng là một phần trong chiến thuật cách mạng – và rồi, một khi sự khốn khổ được tạo nên như thế đã được đem vào tận nhà đến với mọi người rồi thì dân chúng được hiến kế về giải pháp cho mọi vấn đề của họ. Đám đông sẽ không phải là đám đông nếu nó không chạy theo bất kỳ những lời hứa màu mè nào, bất kể là những lời hứa xuất xứ từ đâu, và không bắt đầu xây dựng ngôi nhà mộng mơ trên những lời hứa đó. Nếu có ai trong đám đông không hiểu những lời hứa hẹn, thì cũng chẳng bao giờ thành vấn đề một chút xíu nào. Nếu về sau người ta không thể giữ lời về những điều hứa hẹn đối với mọi điều vinh quang ấy thì cũng chỉ là chuyện nhỏ. Đám đông tin mọi điều và hy vọng về những điều dường như không thể xảy ra, cho dù đám đông có trải qua kinh nghiệm về những lời hứa cuội không biết bao nhiêu lần rồi (RV 1862, S. 296).
37. Đừng tin mọi điều được đăng trên báo chí (RV 1856, S. 617).
38. Từ những kinh nghiệm chua cay, chẳng lẽ tất cả chúng ta không biết rằng hầu hết các phóng viên báo chí chỉ là quá phấn khởi khi tuyên bố rằng ý tưởng của họ là «công luận» đó sao? Chẳng lẽ chúng ta không biết rằng mọi kẻ lê la quán rượu đều tin rằng mình là đại biểu cho công luận sao? Chẳng lẽ mọi người chúng ta không biết, quá rõ là đàng khác, người ta đã tạo ra thứ được gọi là «công luận» ấy như thế nào hay sao? Hơn nữa, điều xảy ra cho «công luận» chỉ vượt qua thời gian cho tới ngày hôm nay, hay ngày mai rồi cũng thế? (RV 1865, S. 130).
39. Người ta phải là cứng cỏi lắm mới sống sót được qua những trò gây xì căng đan thường xuyên trên báo chí chính trị mà không bị tổn hại về thể xác cùng linh hồn (RV 1865, S. 521).
40. Một cung cách thời thượng và phổ biến của các nhà viết báo để xử lý những mặt của đời sống công cộng, xã hội hay tôn giáo không phù hợp là chỉ viết một vài bài rất tóm lược và hời hợt, hoặc kể cả việc làm hiểu sai và bóp méo sự việc khiến cho nó bị mất đi nội dung tự nhiên và bị đặt dưới một ánh sáng hoàn toàn khác, hay có những sự việc khác bị hoàn toàn phớt lờ đi; cách đó được gọi là «giết người bằng sự yên lặng» (RV 1857, S. 442).
41. Cách dễ dàng nhất để có thể đến với con người, khiến họ làm điều ta muốn họ làm là tâng bốc họ và những mối quan tâm đặc biệt của họ lên. Và vì ta phỉnh phờ họ với sự quả quyết, khéo léo và chủ ý như thế nên quả là một phép lạ nếu họ, dù chỉ nghe lấy một nửa thôi, mà không bị xiêu lòng, không bị mắc bẫy và bị trói buộc vào vòng nô lệ do sự dối trá này (RV 1859, S. 717).
42. Người quen đọc báo sẽ đón nhận mỗi số báo mới với một dự đoán nào đó. Trước khi an vị để đọc báo một cách thoải mái, nếu không có hàng tít lớn chữ đen nào loan tin gì «đặc biệt» cả, người đó sẽ đọc lướt qua toàn bộ xem có biến cố nào «quan trọng» trên thế giới không. Và nếu người đó không tìm thấy gì thì sẽ không còn chú ý đến số báo ấy nữa. Nhưng người ta vẫn thường nhủ lòng là số báo sau sẽ mang tin họ đang mong đợi. Nghệ thuật của người viết báo gồm có việc luôn cung cấp cho độc giả một điều gì mới, điều gì đó khiến cho độc giả chú ý đến tờ báo, vì xét cho cùng là các độc giả đem lại thu nhập cho tờ báo. Thật ra có nhiều người rất sở trường về nghệ thuật này, và nếu không có gì «đặc biệt» xảy ra, người ta sẽ sáng chế ra một điều dối trá khôi hài nào đó, và người ta biết cách giữ cho các đảng phái lao mình vào và mắc kẹt trong những cuộc xung đột, đấu đá để có nhiều tin giật gân mà tường thuật. Đó là thứ muối, tiêu trên bàn ăn mỗi ngày của báo chí, và độc giả sẽ không còn là độc giả nếu họ không ngấu nghiến bữa ăn lý thú với cùng một khẩu vị mỗi khi có thể (RV 1861, S. 586 f).
43. Một lối nói văn vẻ là một vật được đánh bóng và lấp lánh bên ngoài để nó có thể đứng vững được trước những soi mói, trong khi nội dung đích thực của nó thì hoặc là chẳng có giá trị gì, hoặc có thể là nguy hiểm và gây tác hại nữa. Một lối nói sáo là một sự lừa dối đeo mặt nạ, là sự phản bội bằng gương mặt lương thiện, là đạo đức giả được che đậy, là đường trộn lẫn với thuốc độc (RV 1859, S. 211).
44. Một vấn đề không thể tránh né, thiết yếu và buộc phải xem xét, là phân biệt giữa hàng hóa thông thường với những nhu cầu không thể phủ nhận cho đời sống của một quốc gia có phải thuộc bản tính của con người hay không. Phải chăng không thể phó mặc trong một giây phút nào những nhu cầu quốc gia cho những kẻ chụp giựt hoặc cho các nhà tư bản y như ta giao phó hàng hóa cho họ xem xét được? Nói với chúng ta về tình trạng của những xí nghiệp tự do hay thị trường tự do nào có ích gì. Cứ làm như chúng là thứ ơn cứu độ nào đó của Thiên Chúa ban cho không bằng! Cứ làm như mọi tự do đều có quyền hiện hữu khi mà quá rõ là nó gây nên nhọc nhằn và khốn khổ! Dường như với chúng ta, chỉ điều gì làm tăng thêm những nguyên cứ cho sự thiện và ngăn cản con người khỏi làm điều dữ hay gây nên tác hại hoặc tổn thất mới xứng danh là tự do. Tự do để làm gì nếu nó chỉ có lợi cho một số nhỏ dân cư và do đó để mặc đại đa số dân chúng ngoài trời lạnh lẽo, trong khi đại đa số này mới thực sự được gọi là quốc gia dân tộc? (RV 1854, S. 429).
45. Nếu việc thương mại không được hướng dẫn theo những nguyên tắc Kitô giáo mà trong tâm trí chỉ nghĩ đến tỉ suất lợi nhuận tối đa, thì sẽ là một phép lạ nếu việc thương mại đó không biến thành dối trá và tham ô (RV 1858, S. 44).
46. Một số nhà chính trị không thuộc về số người tin rằng phúc lợi con người là bất biến, tuy họ mau mắn cho con người hưởng phúc lợi ấy. Họ tin rằng phúc lợi vật chất của con người không thể là điều cao cả và đáng mơ ước nhất trong đời. Dẫu sao, họ vẫn tin rằng nếu nhiều người có niềm tin vào những sự vật trần thế bị tiêu tan thì đó sẽ là một kinh nghiệm hữu ích hơn nhiều đối với bất kỳ thứ phúc lợi nào của con người. Họ tin rằng đời sống có một gía trị cao cả hơn, một ý nghĩa đáng giá hơn nhiều, so với những gì mà những cuộc thương lượng mặc cả thương mại, tiền bạc và của cải có thể đem lại; và vì thế họ tin rằng người ta phải sẵn lòng hy mọi sự thế gian nếu những thứ này nguy hại cho những giá trị cao cả hơn (RV 1859, S. 135).
47. Hoặc người ta nhìn đời sống và thế giới, kể cả đời sống chính trị, bằng con mắt Kitô hữu, giải quyết vấn đề công lý bằng lương tâm Kitô hữu, đại diện cho những quyền lợi và luật lệ Kitô giáo mà không hề sợ hãi; hoặc người ta nhìn thế giới và con người bằng đôi mắt không phải là Kitô hữu rồi bởi đó sẽ gán cho những biến cố và cơ cấu một ý nghĩa khác đồng thời sẽ đo lường các quyền lợi và luật pháp theo các tiêu chuẩn khác. Không ai sẽ có thể thuyết phục được tôi rằng các Kitô hữu nhìn và đối xử với quyền lợi và luật pháp cũng giống như người không phải là Kitô hữu, cho dù họ là người không Kitô hữu công khai hay thầm kín, hoặc ngay cả thuộc loại Kitô hữu thay đổi đức tin khi họ thấy là phù hợp. Hầu như không thể có người nào chỉ gán các giá trị nhân bản cho mọi sự việc mà lại có thể đối xử với các sự việc và những cơ cấu ấy theo cách của Kitô giáo. Vâng, kết cục là do việc khước từ ý nghĩa Kitô giáo của sự vật, kẻ ấy cũng sẽ phủ nhận giá trị Kitô giáo của các sự vật ấy và coi là nhân bản điều chính là Kitô giáo (RV 1858, S. 745).
Chương 19
Chúng ta không chọn người
cho hôm nay, mà cho ngày mai
1. Người ta chỉ có thể chăm lo, cải tiến và dạy dỗ một cách thành công những điều mà chính người ấy biết rõ (RV 1864, S. 38).
2. Nếu không hiểu đầy đủ ý nghĩa của điều gì, người ta không thể xử lý điều đó một cách đúng đắn được (FS 1851, S. 49).
3. Kẻ nào chỉ có thể nói với người khác mà lại không thể và không muốn làm gì để cải thiện những gì người ấy nói thì đó là kẻ ba xạo (VK 1852, S. 153).
4. Những ai luôn nhìn quá xa thì có lẽ không thể để ý đến những điều đang xẩy ra chung quanh mình vào lúc này (VK 1853, S. 81).
5. Chỉ những kẻ khờ dại mới lãng phí thời gian và sức lực vào những chuyện tầm phào và do đó bỏ lỡ những việc quan trọng (FS 1851, S. 45).
6. Những ai yêu mến chân lý sẽ bảo vệ chân lý nếu chân lý bị tấn công (RV 1863, S. 19).
7. Thật dễ dàng giải quyết sự việc và đối xử với những người có địa vị xã hội kém hơn mình; nhưng người ta thường phàn nàn về những người có địa vị cao hơn mình. Có người chỉ thích thấy điều tốt, hay ít nhất là những mặt tốt hơn của những việc họ đảm trách. Còn những người không bao giờ hài lòng thì luôn có khuynh hướng giễu cợt mọi việc người khác làm hay nói cách khác, họ chỉ có thể nhìn thấy lỗi lầm và khiếm khuyết của những việc đó mà thôi (RV 1863, S. 706).
8. Mọi công dân của một quốc gia phải đóng góp hết sức có thể vào việc bảo quản hầu luật pháp và trật tự được duy trì một cách hân hoan, cho điều thiện có được không gian, bầu khí và ánh sáng để phát triển, và điều xấu không thể bén rễ vào đâu được (RV 1858, S. 728).
9. Kết quả của cuộc bầu cử sẽ ra sao? Vấn đề ấy có liên quan tới mọi công dân yêu nước khiến người này háo hức hỏi người kia. Vì có quá nhiều điều tùy thuộc vào kết quả của cuộc bầu cử, hoặc nó thúc đẩy sự phát triển và tăng thêm phúc lợi đích thực cho quê hương tổ quốc chúng ta, hoặc nó là điều bất lợi cho đất nước và sẽ gây điều tác hại. Chúng ta trả lời cho vấn đề này bằng câu nói: «Vào làm sao thì ra làm vậy». Kết quả của một cuộc bầu cử trước hết tùy thuộc vào cách người ta bỏ phiếu. Do đó, kết quả tùy thuộc vào nhiệt tình hay sự thờ ơ lạnh nhạt của các cử tri. Đây là cơ hội cho mọi người có đủ tư cách bầu cử đóng góp phần mình vào lợi ích của tổ quốc; người nào có quyền bầu cử phải coi việc đi bầu là trách nhiệm của mình phải làm (RV 1858, S. 705 f).
10. Vâng, người ta phải bầu cử. Người ta có nghĩa vụ đi bầu. Lợi ích chung đòi hỏi đông đủ cử tri đi bầu. Thắng hay bại chỉ là thứ yếu so với nhu cầu có mặt trong suốt cuộc tranh cử. Bỏ cuộc trước khi cuộc chiến thực sự bắt đầu gần như là điều ít vinh dự nhất, và do đó là hành vi đáng trách nhất của một đảng phái. Nếu tất cả cử tri đều có mặt đúng lúc và đúng nơi cần đến sự bày tỏ chính trị của họ thì kết qủa bầu cử trong một vài trường hợp chắc chắn sẽ hoàn toàn khác, và người ta chắc sẽ biết rõ ý kiến thực sự của dân chúng hơn làm khác đi nhiều. Ngay cả trong những tình huống mà người ta thuộc về thiểu số, người ta vẫn không nên thay đổi lá phiếu của mình. Ngay cả một thiểu số cũng có thể đòi được kính trọng và điều quan trọng chủ yếu trong đời sống chung là có được sự kính trọng của phe đối lập. . Thường thường đứng về phía thiểu số lại vinh dự hơn là theo đa số nhiều. Điều duy nhất thực sự quan trọng là người ta đại diện cho chính nghĩa nào, những nguyên tắc nào. Nếu một người bỏ trống chiến trường cho đối phương, thì đối phương có thể là chính đáng khi cho rằng chỉ có họ trong cuộc chạy đua và do vậy chỉ có họ mới xứng đáng là những nhà cầm quyền. Đối phương càng thấy khó chiến thắng thì họ càng ít lợi dụng được chiến thắng đó. Do vậy, bạn hãy bầu cử vì đó là bổn phận công dân của bạn và vì đó thuộc về lợi ích chung như chúng ta vừa mới nói. Chúng ta không được phép và cũng không thể chạy trốn một cách hèn nhát để rồi nhận được sự khinh miệt của đối phương. Những ai không chịu khó ủng hộ những nguyên tắc của mình, không hy sinh vì những nguyên tắc ấy thì thực sự không có được điều gì cả (RV 1862, S. 218 f).
11. Chúng ta không đi bỏ phiếu vì ngày nay, mà vì tương lai. Do đó, chúng ta phải phóng tầm mắt nhìn xa hơn những lợi ích chóng qua từng ngày. Trong những lúc khủng hoảng, vẫn luôn có ích khi chúng ta suy nghĩ và đem áp dụng lời nói khôn ngoan của người xưa: «Hãy nghĩ đến hậu quả trước khi bạn hành động». Có lẽ người ta không thể nghĩ về mọi hậu quả, nhưng buộc phải nghĩ về những hậu quả thiết yếu nhất (RV 1863, S. 668).
12. «Chúng ta nên bỏ phiếu cho ai?». Trước hết, chúng tôi sẽ đề cập đến những người mà các bạn không nên dồn phiếu cho. Thứ nhất, đừng bỏ phiếu cho những ai mà bạn không hoàn toàn hài lòng về sự dấn thân Kitô giáo của họ. Kitô giáo là người bảo vệ tốt nhất cho lương tâm, mà lương tâm là sự bảo vệ tốt nhất cho công lý, mà cơ bản thì toàn thể đời sống chính trị tùy thuộc vào công lý. Đừng bỏ phiếu cho những người không vững lập trường, gió chiều nào nghiêng theo chiều ấy. Đừng bỏ phiếu cho những người có tính cách đáng nghi và bất định, hôm nay thì hứa hẹn cho nhiều mà ngày mai chẳng giữ được điều gì đã hứa. Đừng bỏ phiếu cho những kẻ hay nói và khoác lác mà sự hợm hĩnh của họ lớn hơn cả trí khôn. Đừng bỏ phiếu cho những người quá lệ thuộc vào công ăn việc làm, để tránh cám dỗ thay đổi suy nghĩ của họ hoặc bỏ qua không chu toàn bổn phận mình vì lợi ích của miếng cơm manh áo (RV 1858, S. 706 f).
13. Ngày xưa thì đã quá xa xôi đối với chúng ta để chúng ta có thể tiếp tục những truyền thống cổ xưa mà chẳng cần thay đổi gì cả (RV 1857, S. 494 f).
14. Nếu có thể chúng tôi muốn cảnh báo các độc giả là phải giữ bình thản trước hoạt động chính trị của các đảng phái rõ ràng đang gia tăng, và hãy xử sự một cách cảnh giác đối với điều mà một đảng phái nói hoặc viết trên báo về một đảng phái khác. Mỗi đảng đều điêu luyện hơn đảng khác trong việc bôi bác đối thủ và rốt cuộc thì chính công chúng phải bị thiếu thốn sự thật (RV 1863, S. 26).
15. Vì chúng ta là những người không chỉ mang danh Công giáo mà còn là Công giáo bằng việc làm, không chỉ trong các tín điều mà còn trong mọi lãnh vực đời sống, nên chúng ta thực sự thuộc bản chất thích duy trì, là những người bảo thủ. Không phải bảo thủ theo nghĩa muốn hay được phép bảo vệ lầm lạc, sự ác hoặc là tội lỗi (RV 1858, S. 804).
16. Nếu ai muốn phán đoán đúng về đời sống quốc gia của chúng ta, người đó phải quan sát chúng ta lao động, giải trí ở đâu và như thế nào (RV 1858, S. 780).
17. Người ta phải nói sự thật cho dân chúng, sự thật là dòng nước mà mọi người đều khao khát uống. Người ta phải chỉ cho dân chúng thấy những khiếm khuyết của họ, phải phán đoán dân chúng một cách kiên quyết không thiên lệch và phải tạo điều kiện cho dân chúng có thể tự cải tiến (KS 1, S. 73).
Chương 20
Chỉ có những người tốt
mới cải tiến được thế giới
1. Những ai tin vào Thiên Chúa cũng phải tin vào con người, và những ai tin rằng Kitô giáo là đạo sống động thì họ phải hành động trong tinh thần Kitô giáo. Điều này không tùy thuộc vào sự ngẫu nhiên nhưng cần phải phát xuất từ chính nghĩa và hầu như là bổn phận của mỗi người (FS 1851, S. 3).
2. Những lời nói hay chẳng ích lợi gì; việc làm mới nói thay cho người ta được (RV 1855, S. 163).
3. Người ta không đạt được điều gì tốt đẹp và lớn lao trên thế giới mà không phải nỗ lực và hy sinh (MV 1864, H.3, Sp.78).
4. Chỉ có lời nói xuông thì sẽ không bao giờ đạt được điều gì đặc biệt. Điều chủ yếu luôn luôn là việc làm (FS 1852, S. 37).
5. Nếu mỗi người đều làm hết sức trong môi trường riêng của mình thì thế giới chẳng mấy chốc sẽ trở thành một nơi tốt đẹp hơn (VK 1853, S. 94).
6. Nguyên chỉ vì cánh đồng ta cày quá nhỏ không có nghĩa là chúng ta đang lãng phí thời gian (FS 1851, S. 2).
7. Người ta càng làm ít, càng có khuynh hướng giải quyết mọi chuyện bằng lời nói. Và người ta càng nói nhiều, thì tự mình làm càng ít đi (FS 1851, S. 87).
8. Thật là một khẩu hiểu xấu: «Thế giới hư hỏng hoàn toàn, nên tốt hơn là cứ để mặc nó, đừng phí sức cho nó làm gì». Bởi vì nói thế không chỉ bộc lộ sự lười biếng khốn khổ mà còn cho thấy sự ngu dốt của mình về môi trường mình đang sống nữa (FS 1851, S. 2).
9. Có một quan niệm sai lầm và phổ biến do sự lười biếng khi nghĩ rằng mọi nỗ lực và việc làm của chúng ta nhân danh sự thật và sự thiện đều vô ích. Quan niệm sai lầm ấy tự nó là phi Kitô giáo (RV 1856, S. 662).
10. Đây không phải là lúc để ăn mừng, để vẫn làm những kẻ bàng quan, để mặc sự việc trôi qua, để oán trách hay khóc than; nhưng chính là lúc để hành động, để làm việc với khả năng tốt nhất của từng người và của mọi người không phân biệt một ai (FS 1851, S. 3).
11. Hãy hỗ trợ cho việc kiến tạo một tương lai tốt đẹp hơn bằng cách hỗ trợ cho việc cung cấp một nền giáo dục thiết yếu có thể đem lại những cải thiện (GV, S. 9).
12. Tình hình càng trở nên thất vọng thì người Kitô hữu càng có thể làm chứng ta cho đức tin bằng việc làm cách phong phú hơn, và cuối cùng thì đức tin sẽ chinh phục thế giới (RV 1860, S. 826).
13. Dĩ nhiên ân sủng được liên kết với lời nói, nhưng ân sủng chỉ sống động qua việc làm. Thời đại chúng ta có quá nhiều lời nói nhưng lại có quá ít việc làm đúng đắn. . Hãy tạo ra những việc làm khôn ngoan theo tinh thần Kitô giáo, bạn sẽ thấy và làm được những phép lạ của ân sủng (RK 1850, S. 3).
14. Đừng bỏ lỡ cơ hội, đừng nhìn vào những việc làm của Thiên Chúa một cách nhút nhát. Cánh tay uy dũng của Ngài có thể và sẽ làm thẳng mọi con đường, sẽ trợ giúp một cách diệu kỳ. Hay chúng ta chưa thường có kinh nghiệm đủ về điều đó chăng? (KS 2, S. 215).
15. Chỉ có Thiên Chúa mới biết được điều gì sẽ xảy ra trong tương lai; vì thế ta không nên quá sợ hãi về tương lai. Hãy tin chắc rằng ta không thể bị trách cứ vì bất kỳ tai ương nào trong tương lai. Hãy nhìn cho rõ vào hiện tại để có thể gẫm suy về nó như một Kitô hữu và thực hiện những điều ngay chính cho hiện tại (RV 1855, S. 408).
16. Hãy can đảm tiến bước. Thiên Chúa sẽ để mắt đến tương lai! Con người chúng ta lo lắng về tương lai nhiều quá mức. Chúng ta phàn nàn về quá khứ và không lưu tâm đến hiện tại đủ (KT.1858, S. 227).
17. Thiên Đàng không chỉ là ngôi nhà chung của người Kitô hữu, nhưng ngôi nhà của họ cũng ở trên trần gian này vì đó là nơi họ cùng nhau xum họp (RV 1855, S. 377).
18. Bao lâu Thiên Chúa còn ban sức mạnh cho chúng ta thì chúng ta sẽ vui sướng tiếp tục làm việc. Tương lai thuộc về Thiên Chúa và thuộc về những người can trường (KS 2, S. 310)
19. Chúng ta làm việc hôm nay, nhưng phải luôn nghĩ đến tương lai trong tâm trí, nếu không thì mọi cố gắng của chúng ta đều là điên rồ và sẽ không bao giờ đạt được điều gì hữu ích (FS 1851, S. 47).
20. Nhiều người suy nghĩ về việc tái tạo, phục hồi xã hội nhân loại. Một số người kêu gọi làm việc cho mục tiêu này, . một số khác kêu gọi một thái độ. Nếu bạn muốn thực hiện được điều gì, thì bạn hãy theo học trường của Chúa Hài Đồng và bước theo con đường của Ngài là con đường duy nhất dẫn đến thành công (RK 1850, S. 2).
21. Thế giới có trở lại với cấu trúc Kitô giáo hay không là tùy vào việc Kitô giáo có tích cực hay không. Chúng ta không được cố sức đóng khung Kitô giáo năng động vào trong nhà thờ, bệnh xá hay những lãnh vực quen thuộc của riêng mình mà phải sung sướng và vui tươi đem Kitô giáo vào mọi lãnh vực của cuộc sống xã hội (RV 1854, S. 14).
22. Chúng ta muốn sống đơn sơ ngay thẳng và cởi mở nhưng phải là những Kitô hữu kiên định mà ngọn cờ của mình là Thập giá và thầy dạy, linh mục, hoàng đế đích thực của mình là chính Chúa Cứu Thế. Chúng ta coi đó là bổn phận cần thiết của Kitô hữu trên trần thế để duy trì Nước Chúa trên thế gian. Vì thế Kitô giáo không được giữ điều đó cho riêng mình mà phải hết sức quảng bá, để với sự trợ lực của Thiên Chúa chúng ta chiến đấu chống mọi cuộc tấn công thù nghịch và chống lại mọi kẻ thù. Giáo Hội là ở đây, dưới thế này, và phải là một Giáo Hội chiến đấu. Chúng ta có biết kẻ nào chống lại chúng ta, kẻ nào ủng hộ chúng ta không? (RV 1860, S. 178).
23. Không phải là hòa bình với bất cứ giá nào mà không xem xét đến những nguyên tắc căn bản; sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ thấy mình trong một hoàn cảnh còn khốn khổ hơn (RV 1858, S. 137).
24. Lương tâm đòi hỏi chúng ta phải và cần phải đứng về phía cũng như bảo vệ mọi điều thiện hảo mà không màng phần thưởng cùng lời khen ngợi, cũng chẳng quan tâm đến việc được thua trước mắt. Không phải ngẫu nhiên mà chúng ta sống trong một giai đoạn im lặng, chấp nhận, tùng phục một cách thụ động. Chúng ta phải xấu hổ vì sẵn sàng tin vào một sự trợ giúp thần kỳ nào đó từ Trời cao đang khi chúng ta cứ xỏ tay vào túi và tự bào chữa với những luận cứ mong manh là dù sao đi nữa cũng không thể làm được gì. Không, «không làm gì cả» chẳng giải quyết được gì cả, chấp nhận mà không kháng cự là điều tồi tệ trong mọi tình huống khi mà người ta vẫn còn có cơ hội và tự do để phản đối (RV 1862, S. 251).
25. Sự biển thủ thời gian sẽ gây ra khốn cùng vô vọng cho con người trong cuộc đời ngắn ngủi này (RV 1858, S. 711).
26. Thiên Chúa đã giao phó mọi sự cho bạn. Không phải là Ngài giao quyền sở hữu tối cao của Ngài cho bạn. Không phải thế, Ngài đã ban cho bạn tài sản của Ngài, chỉ đơn thuần là để bạn quản lý các tài sản ấy một cách tự do, nhưng theo tinh thần Kitô giáo (FS 1852, S. 181).
27. Thời gian tự nó chẳng có giá trị gì. Thời gian chỉ có ý nghĩa nhờ vào các hoạt động của chúng ta trong thời gian mà thôi (RV 1856, S. 50).
28. Thời gian là một tín vật quan trọng trong tay con người, đó là một kho báu được giao phó cho con người, giống như một hạt giống mẩy mà con người phải gieo trồng và chăm sóc đời này và đời sau. Tất cả thời gian mất mát và bị lạm dụng thực là một tội ác chống lại sự hiện hữu ngắn ngủi của chúng ta, chống lại hạnh phúc chân chính, chống lại chân lý và do đó chống lại hạnh phúc đời đời (RV 1862, S. 4).
29. Lịch sử thế giới đầy dẫy những tiền lệ khủng khiếp, chỉ cần con người, gồm cả những người có địa vị cao tột bực, nhận ra điều này và gẫm suy về điều ấy (RV 1859, S. 235).
30. Sự khôn ngoan nhân loại thuần túy không bền vững. Sự khôn ngoan ấy sẽ bỗng dưng thấy mình trơ trọi trong sự chao đảo và thường trở thành ngốc nghếch. Nếu sự khôn ngoan không được dùng vào việc phục vụ chân lý và công lý là những giá trị duy nhất bao trùm thế giới và vượt trên giới hạn thời gian, thì chẳng bao lâu sẽ vấp vào chính những bước chân của nó (RV 1859, S. 508 f).
31. Nếu chúng ta xin Thiên Chúa chúc lành cho điều này điều nọ, chúng ta không thể chỉ đứng yên một chỗ, ngước mắt lên trời và cho tay vào túi như thể Thiên Chúa phải làm hết mọi việc đang khi chúng ta trố mắt nhìn, há hốc mồm, thở hổn hển vì kinh ngạc; Chúa muốn chúng ta hỗ trợ cho lời cầu nguyện bằng những nỗ lực của chúng ta, nhất là khi chúng ta cầu xin Thiên Chúa chúc lành cho một điều gì đó (FS 1854, S. 1).
32. Thiên Chúa đã không ban cho con người thời gian và không gian trên trái đất này, sức mạnh của trí óc và thân xác cũng như ân sủng của Ngài để rồi Ngài vẫn phải một mình làm mọi việc, mà là để con người có thể tích cực dấn thân giúp người khác đạt được mục đích mà Thiên Chúa dành cho họ trên trần thế. Chúng ta đã không được tạo dựng để ngủ yên nhưng là để làm việc, không phải để chúng ta ăn uống nhưng để chúng ta sử dụng sức mạnh có được từ việc ăn uống; và dù chúng ta sướng hay khổ thì đó là trách nhiệm của chúng ta, vì tương lai của chúng ta tùy thuộc vào những gì chúng ta tự mình làm được nhờ sức mạnh ấy (FS 1852, S. 1).
33. Thiên Chúa không muốn một mình làm mọi sự cần phải làm giữa con người với nhau, nhưng Ngài muốn con người phải làm phần việc của mình. Chính Ngài, Người Cha trên trời cao, sẽ khởi sự công việc, chỉ cho chúng ta đường lối, cách thức và công việc phải làm; Thánh Ý của Ngài là con người dưới thế được lợi ích từ gương lành của Ngài và phải tỏ ra mình thực sự là con cái của Thiên Chúa nhờ bắt chước gương lành của Ngài (RV 1857, S. 508).
34. Kitô hữu đã rửa tội, người được giao hòa với Thiên Chúa, đã được đặt đứng thẳng trên đôi chân và được phán bảo rằng: Hãy tiến bước! Khi tay và chân được giải thoát, người ấy được phán bảo: Hãy làm công việc của mình! Lúc này đây người ấy có nhiệm vụ phải thực hiện những gì mà số phận đòi hỏi trên trần thế; lúc này đây, người ấy có trách nhiệm phải chấp nhận trật tự của Thiên Chúa cách thong dong vui sướng và phải hành động cho phần rỗi đời này và đời sau của mình bằng cách tự nguyện chu toàn các lề luật của Chúa (FS 1851, S. 158).
35. Thiên Chúa không muốn là người duy nhất trên trần thế có thể làm cho mọi sự tốt hơn và là người duy nhất có thể tạo ra niềm hạnh phúc chung. Ngài đã không tạo nên con người như một công cụ chết mà không có ý muốn độc lập, nhưng Ngài đã tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài, nên trang bị cho con người những dụng cụ và phương tiện mà con người cần sử dụng cách ý thức và ngay thật hầu những thứ đó phụng sự con người khi hoạt động cho ơn cứu độ. Nhờ vậy, công trình của Thiên Chúa sẽ tốt đẹp hơn nhiều, nhưng Thiên Chúa cần sự cộng tác của con người. Người ta vẫn có thể thay đổi nó và bảo: Nếu con người làm việc tốt hơn với sự trợ giúp của Thiên Chúa, sự vật khắp nơi sẽ nên tốt đẹp hơn. Thiên Chúa ban hạnh phúc, nhưng con người phải tìm kiếm, phải chiến đấu giành lấy và xứng đáng với hạnh phúc. Không có điều gì tốt đẹp có thể tự nó mà có. Hạnh phúc không được phân phối một cách ngẫu nhiên, không phải từ trên trời rơi xuống dù muốn hay không muốn (RV 1865, S. 4).
36. Thế giới có thể không cần đến bất cứ điều gì do tâm trí con người tạo ra, và dù vậy thế giới vẫn còn tồn tại… Nhưng có một điều mà thế giới không thể không cần đến, điều đã trở nên cần thiết hơn cho ngày hôm nay hơn bao giờ hết, cho dầu thế giới không biết gọi nó là gì… đó chính là Đức Tin. Trong Đức Tin tình yêu trở nên tích cực. Tình yêu ấy đã nên sự chữa khỏi cho mọi vấn đề và mọi điều xấu xa của xã hội loài người, bao lâu mà tinh thần Kitô giáo vẫn hiện hữu trên cõi đời này (RV 1863, S. 5).
37. Hẳn chúng ta sẽ có cơ hội để nhìn thấy Đấng tối cao trong một hoàn cảnh đáng thương nào đó của con người và chúng ta có thể ca tụng lòng nhân từ và ân huệ của Ngài. Cơ hội đó hẳn là hôm nay. Do đó, chúng ta đừng để cho đầu mình gục xuống, nhưng hãy can đảm nhìn thẳng và tiếp tục thực hiện chương trình của Thiên Chúa mà không nghi ngại. Chỉ những điều được sáng tạo cùng với Chúa và cho Chúa mới tồn tại khi mọi sự khác sụp đổ tan tành (KS 2, S. 229).
38. Người ta chỉ có thể tranh luận về chân lý chứ không thể chinh phục được chân lý. Nhưng chúng ta phải không được tru tréo với bầy sói, không được cùng lê bước theo những hỗn loạn chính trị và xã hội, mà phải trung thành với đức tin, can đảm bày tỏ cho thế giới, bằng lời nói và việc làm, rằng chúng ta là con cái của Thần Khí nào – tôi nói là con cái của người mẹ nào – và không bao giờ mệt mỏi trong việc thực thi đức bác ái Kitô giáo. Thời đại càng tệ hại, tâm hồn sẽ càng có thể lớn lên, và về mặt công chúng, Kitô giáo không bao giờ cận kề với chiến thắng cho bằng khi nó xem ra kiệt sức vì hy sinh (RV 1864, S. 6).
39. Ngay cả khi Thần Dữ đã lơi lỏng trong thế giới ngày nay, cả khi nó đã hư hoại, thì vẫn có một điều chắc chắn, đó là các Kitô hữu không có lý do gì để sợ hãi, để tự ẩn mình đi, và để nghi ngờ ơn cứu độ trần gian. Nhưng họ thường nghĩ rằng kẻ thù mạnh hơn chính họ hoặc cho rằng kẻ thù đã thống lĩnh thế giới rồi hoặc rất gần như thế. Chắc chắn những kẻ thù chúng ta cũng nghĩ như thế, và chúng còn công bố nền thống trị sắp đến của chúng trên thế giới với sự tự tin biết mấy, khiến không ai có thể nghi ngờ gì về việc đó. Tuy nhiên chúng ta vẫn coi những việc đang xảy ra như là trò khoác lác phù phiếm hoặc tự lừa dối mình; không được để bị mắc bẫy. Chúng ta phải cẩn thận, càng phải thận trọng hơn trước, đừng tin hoặc nghe những điều quả quyết của họ, những điều họ gieo rắc một cách trâng tráo khắp nơi trên thế giới. Nếu chúng ta chỉ cần tỉnh táo và nhìn quanh để nhận ra sự giúp đỡ lớn lao có thể có cho chúng ta, thì chúng ta sẽ nhận ra rằng chúng ta không cần phải sợ hãi và không chỉ có thể giữ vững vị trí khi đối mặt với kẻ thù mà chúng ta còn có thể thực sự tin chắc sẽ chiến thắng nếu chúng ta đã làm việc mình phải làm (RV 1860, S. 163).
40. Thiên Chúa không làm thay cho con người bất cứ điều gì chính con người có thể tự làm (KT.1852, S. 233).
41. Nếu bạn muốn thắng sự dữ, bạn cần phải xa tránh nó (VO 1850, S. 10).
42. Thật là phiền phức! với người Công giáo, họ phải được thúc đẩy, cần khích động họ một chút để họ bắt tay vào việc (KT.1851, S. 24).
43. Vâng, nếu một người nào đó phải để một kẻ thật sự lười biếng dưới chân núi và bảo hắn phải đi lên đỉnh núi, nếu không sẽ bị thú dữ ăn thịt, và kẻ đó nói: «tôi không thể», thì những người có suy nghĩ hẳn sẽ nói rằng «Vậy là không phải rồi, hắn ta quá lười biếng». Và nếu kẻ lười biếng nghĩ rằng lẽ ra Thiên Chúa đã phải ban cho hắn đôi cánh để hắn có thể bay lên một cách thoải mái, thì đó quả là một ước muốn ngây ngô vì Thiên Chúa đã ban cho hắn hai chân để đi… Đúng, hắn phải nhấc đôi chân, phải cất bước, phải tự mình khởi động, bởi hắn có thể đứng lên, và nếu hắn từ chối đứng dậy rồi bỏ mạng ở đây thì hẳn đó là lỗi của riêng hắn. Cũng vậy, một Kitô hữu không được nói: «Bạn phải trở nên một Kitô hữu hoàn hảo và hoàn toàn vào buổi bình minh sáng mai, cũng như là một bậc thầy thực sự của mọi nhân đức cao cả và nhất thiết phải có, tức bạn sẽ phải trở nên một thiên thần ngay ngày mai». Không, bạn đã được nghe nói: «Bạn phải có một tâm hồn sẵn sàng hành động hầu có được các nhân đức mà bạn không có. Bạn phải cẩn thận, hãy dùng sức mình, hãy luyện tập các nhân đức, từ nhân đức nhỏ đến nhân đức lớn, từ nhân đức dễ đến nhân đức khó, từ chưa thuần thục đến chỗ thuần thục». Đừng nghĩ rằng, dù chỉ một phút, nhiệm vụ mà Thiên Chúa đã giao cho bạn quá khó. Đó là sự tưởng tượng vô căn cứ do tính lười biếng có tính đạo đức, gây trở ngại cho bất cứ công việc luyện tập nhân đức nào, và cũng là nhăn răng cười trừ thay vì góp sức vào. Nếu con người không đủ sức, thì Thiên Chúa sẽ giúp cho (RV 1855, S. 568).
44. Chúng ta thường xử sự như thể thời cơ và hạnh phúc là phước lành từ trời rơi xuống trên đầu chúng ta như sương như mưa, hoặc như «man na» rơi trên đầu dân Do thái ngày xưa, để chúng ta chỉ việc chìa tay ra mà hứng lấy. Và vì điều đó không xảy ra, chúng ta luôn mang bên mình nỗi khổ và ước vọng hạnh phúc không được thỏa mãn của chúng ta năm này qua năm khác; và chúng ta thực sự cảm thấy như trách cứ Thiên Chúa vì sự chậm trễ đó. Không, thưa bạn, đó là lỗi của chúng ta. Nếu năm mới không sung sướng hơn, thì cũng chẳng có gì liên quan đến Chúa cả, chúng ta có thể quy trách cho chính những việc làm của chúng ta. Nếu chúng ta muốn trở nên như những kẻ điên khùng, chỉ tìm hạnh phúc, mãn nguyện nơi sự vật trần gian, thì chúng ta chẳng có lý do gì để phàn nàn nếu sau đó cảm thấy bị phản bội. Tuy nhiên, nếu chúng ta được chuẩn bị để đặt niềm tín thác nơi Thiên Chúa, chúng ta sẽ phải năng động và vui tươi góp sức, chúng ta sẽ phải nghiêm chỉnh sống tinh thần Kitô giáo. Chỉ khi chúng ta làm được như vậy thì năm mới sẽ hạnh phúc hơn năm cũ bởi vì chính chúng ta sẽ cảm thấy hạnh phúc và tốt đẹp hơn (RV 1857, S. 6).
45. Bạn là một Kitô hữu nếu bạn tin vào Đấng Cứu Thế, tin vào Con Thiên Chúa làm người, và nếu bạn chịu phép rửa nhân danh Ngài; bạn là một Kitô hữu đích thực, nghĩa là có năng lực, nếu bạn hết sức sẵn sàng chấp nhận và tuân theo giáo huấn cũng như chỉ dậy của Đấng Cứu Thế (FS 1851, S. 161).
Chương 21
Tình yêu Kitô giáo đích thực
phải chinh phục thế giới một lần nữa
1. Thế giới không thể cứ tiếp diễn như nó đang diễn tiến lúc này! (RV 1864, S. 2).
2. Một bên là Kitô giáo và đức tin, một bên là chủ nghĩa tục hóa và vô tín, là những mâu thuẫn đang bắt đầu có ảnh hưởng rất là triệt để trên thế giới này. Hoặc Chân lý với Uy quyền của Kitô giáo được duy trì và chấp nhận, hoặc chủ nghĩa tự do phi Kitô giáo sẽ bá chủ và sẽ xây dựng vương quốc vô thần của nó trên sự sụp đổ của Kitô giáo (RV 1860, S. 18).
3. Rõ ràng thế giới chúng ta đã đi đến chỗ cuộc tranh luận chủ yếu được tập trung vào vấn đề này: Kitô giáo, cùng với chân lý, quyền lợi và trách nhiệm của mình sẽ vẫn trường tồn, hay thế giới tục hóa sẽ thống lĩnh, cho dù chỉ trong một thời gian ngắn (vì Thiên Chúa chúng ta vẫn và sẽ luôn sống động). Tuy nhiên trong giai đoạn chưa ngã ngũ này, thế giới tục hóa sẽ nỗ lực phá đổ các cơ cấu xã hội Kitô giáo và dùng những đổ nát để xây dựng một trật tự xã hội mới có vẻ lành mạnh. Trong xã hội đó, sự vô tín có thể công bố quyền lực của nó một cách chính đáng và sẽ thống trị mọi sự bằng bạo lực mà không có sự can trường và sức mạnh nào cưỡng lại nổi (RV 1859, S. 699).
4. Cuộc tranh luận chính yếu trong thời đại chúng ta là sự xung khắc về các nền tảng sâu xa nhất của xã hội con người (RV 1859, S. 819).
5. Hoặc là Kitô giáo hoặc là phi Kitô giáo; hoặc là một cơ cấu trần gian phù hợp với quyền lợi và luật lệ Kitô giáo hoặc là một sự phá đổ chính trị, xã hội, tôn giáo của xã hội, một cuộc cách mạng thực sự và đúng nghĩa về mọi phương diện (RV 1860, S. 6).
6. Nếu trong thế giới này có điều gì mà con người cần trên tất cả mọi sự khác, thì đó là chân lý minh bạch, nguyên tuyền, không thể chối cãi, và bởi đó không thể sai lầm về Ơn Cứu Độ (KP 13.3.1846).
7. Điều quan trọng trong hiện tại và trong tương lai là sự chọn lựa giữa một bên là chân lý Công giáo, Đấng Cứu Thế và công trình thánh thiện của Ngài và bên kia là một thứ ngoại giáo khốn khổ, vô tín. Không ai còn có thể bắt cá hai tay được nữa (KP 26.2.1846).
8. Không, Kitô giáo và phi Kitô giáo không bao giờ có thể tương hợp với nhau hoặc cùng chung sống hòa bình, cho dù lúc này xem ra có vẻ như vậy. Điều đã được minh chứng ở mọi thời là Kitô giáo không thể chấp nhận phi Kitô giáo (RV 1858, S. 745 f).
9. Vấn đề quan trọng nhất ngày nay liên quan đến gia đình và những quyền lợi, luật pháp làm nền tảng cho gia đình. Toàn thể xã hội đều liên quan tới mối xung đột này vì chưng sự duy trì quyền lợi, luật lệ và tự do Kitô giáo cũng như uy quyền Kitô giáo đều tuỳ thuộc vào điều đó. Khả năng có thể xảy ra là chế độ chuyên chế và tình trạng nô lệ trong một đất nước vô thần, với hậu quả là bỏ mất phúc lành cùng với tự do Kitô giáo. Không may, có quá nhiều giáo huấn vô thần lầm lạc đã được gieo rắc khắp nơi trong các đại học và những trung tâm học vấn tương tự như thế trên thế giới; sự hủy hoại đang gia tăng của tuổi trẻ thường là bất kham hẳn là chứng cứ hùng hồn về điều này; đây là cao điểm để con người trong gia đình nhớ lại những quyền lợi và bổn phận Kitô hữu của mình và dùng hầu hết thời gian cũng như năng lực để phục vụ cho nền tự do quý giá của xã hội và của gia đình Kitô giáo (RV 1865, S. 151).
10. Điều quan trọng lúc này là người ta là một Kitô hữu và có thể chứng tỏ điều đó. Điều chủ yếu lúc này là chúng ta tin vào Chúa của chúng ta ngự trên Trời và có một tấm lòng đối với người chung quanh. Điều quan trọng lúc này là chúng ta hỗ trợ cho Giáo hội Công giáo, Giáo hội đã bị đe dọa bởi vô vàn bão táp vào những năm cuối thập niên 1800 nhưng vẫn tồn tại. Điều quan trọng lúc này là đứng về phía sự thật và công lý đồng thời biểu lộ sự trung thành, là đức tính truyền thống tuyệt vời của mọi con người có năng lực. Nếu những cơn bão táp nào đó có thể giáng họa xuống trên chúng ra ở trần gian này, thì Thiên Đàng ở chốn cao xanh vẫn là nơi yên tịnh và bình an vĩnh cửu, là ánh nắng và sự ngời sáng của những vì tinh tú đến muôn muôn ngàn đời. Ngài, Đấng Duy Nhất không hề để một sợi tóc trên đầu ai rơi xuống mà không phải là thánh ý Ngài, vẫn hiện hữu trên chốn cao xanh ấy (KV.1860, S. 3 f).
11. Nếu có điều gì thiếu vắng một cách rõ ràng trong đời sống chính trị và xã hội, thì đó là tôn giáo (RV 1860, S. 180 f).
12. Nền tảng phổ quát và duy nhất vững bền trong xã hội con người là lương tâm. Và vì điều ấy tự nó không thể nói lên hay nhắc nhớ được điều gì, nên lương tâm cần được tôn giáo thức tỉnh, thanh luyện, giáo dục và hướng dẫn. Tôn giáo là lương tâm thánh thiện nơi con người; không có tôn giáo, chúng ta sẽ thấy rằng những đau khổ xã hội của chúng ta là do thiếu một lương tri phổ quát, thiếu một tinh thần đạo giáo đích thực. Và vì chúng ta chỉ biết có một tôn giáo đích thực là Kitô giáo, nên những lời phàn nàn về nỗi khốn cùng bao la của xã hội chúng ta có thể được giản lược vào sự kiện là đời sống công cộng và nhiều lãnh vực của đời sống ấy đã bỏ đường ngay nẻo chính, đã bỏ Kitô giáo (RV 1860, S. 795 f).
13. Trên hết mọi điều, thế giới, nghĩa là xã hội loài người, cần có một niềm tin tích cực. Thế giới ấy bệnh hoạn và khổ đau, và ngoài đức tin thì chẳng còn phương dược nào khác cứu chữa thế giới ấy (RV 1863, S. 33 f).
14. Tôi tin rằng đời sống công cộng trước đây chưa bao giờ có nhu cầu lắng nghe Tin Mừng hơn là đời sống công cộng hiện nay (RV 1865, S. 101).
15. Chúng ta có lý do chính đáng để phàn nàn rằng đặc biệt là sự sở hữu và hưởng thụ của cải trần gian ngày nay vi phạm những quyền lợi và luật lệ Kitô giáo hơn bao giờ hết. Vâng, chúng ta có thể công khai tuyên bố rằng sự vi phạm đức bác ái Kitô giáo giữa con người với nhau chính là nguyên nhân gây nên những đau khổ xã hội của chúng ta. Vậy thì có thể rút ra kết luận gì từ điều ấy? Trước hết chúng ta phải biểu lộ sự dấn thân cho Kitô giáo nhiều hơn giữa người này với người khác và nhờ đó gia tăng ý nghĩa của Kitô giáo. Và nếu có một đôi người không thi hành bổn phận mình, liệu những người khác có lý do chính đáng để cũng sao lãng bổn phận của họ không? (RV 1855, S. 617).
16. Chung hoặc riêng, chúng ta đang cùng chịu đựng, giữa các tầng lớp lao động cũng như giữa các tầng lớp khác, chịu đựng nhiều điều do những vấn đề luân lý gây ra hơn là do những vấn đề vật chất. Ttình trạng lộn xộn của xã hội ngày nay là do lỗi lầm của con người gây nên hơn là do thời kỳ xui xẻo. Vì thế, những cải tiến vật chất, nếu có đi chăng nữa, cũng chỉ có thể mang lại thoa dịu tạm thời mà thôi. Việc chữa trị phải khởi đầu từ cội rễ sự dữ, và bất kỳ phương tiện nào được dùng để loại trừ và giảm bớt sự dữ mà cũng không gây ảnh hưởng cho sự thăng tiến luân lý, thì sẽ chẳng thành công nếu không có Kitô giáo (RV 1864, S. 39).
17. Điều cốt yếu chẳng phải là chúng ta khởi sự đề cập đến Kitô giáo một lần nữa để đưa những điều kiện xã hội của chúng ta trở về lại đến một tầm mức có thể chấp nhận được đấy hay sao? (RV 1858, S. 782).
18. Ngày nay rao giảng lý thuyết Kitô giáo trên bục giảng, dạy giáo lý cho con cái chúng ta v. v… . chắc chắn là chưa đủ, mà trong xã hội phi Kitô giáo của chúng ta, chúng ta cần học lại cách nhìn vào cuộc sống hằng ngày bằng con mắt Kitô hữu. Điều quan trọng là những người dạy chân lý thánh phải hòa mình với mọi người, vâng, kể cả đi vào đời sống xã hội, hầu nhờ sự thánh thiện, nhân loại có thể được thức tỉnh từ cõi chết, và có thể bắt đầu sống đúng cách trở lại (RV 1855, S. 236).
19. Điều đó còn tùy thuộc vào việc bày tỏ về phương diện tinh thần cũng như trên thực tế của Kitô giáo có được chuyển tải vào trong đời sống xã hội thường ngày hay không (RV 1855, S. 236).
20. Tình yêu Kitô giáo đích thực phải chinh phục thế giới trở lại, mở lối cho chân lý, làm cho chân lý được hiểu biết trở lại, chiến thắng được lòng người; và những khối óc tự động sẽ trở nên minh mẫn hơn (RV 1863, S. 22).
21. Chế độ Cộng sản phi Kitô giáo hẳn là đã không đi vào thế giới được nếu Kitô giáo đã được thực thi đúng cách ở mọi nơi.
22. Vì tội lỗi là phản nghịch lại Thiên Chúa, vì tội lỗi bóp nghẹt tự do nơi con người, do đó nó là sự chối bỏ Kitô giáo trong đời sống chính trị và xã hội, là nguyên nhân gây ra vô số những đau khổ; thế giới rên siết và cuối cùng sẽ sụp đổ dưới ách của tội lỗi. Chỉ có sự trở về với Kitô giáo, chỉ có sự chấp nhận vô điều kiện lề luật của Đấng Cứu Thế, cũng như Cha, mới có thể lại có được bình an, trật tự, tự do và mãn nguyện trong con người và giữa loài người (RV 1859, S. 293).
23. Điều cơ bản làm cho bối cảnh xã hội hiện thời của chúng ta tệ hại quá mức và khiến cho mây đen che phủ tương lai chúng ta ra tối tăm mù mịt thật đáng sợ, đó chính là sự thiếu vắng tôn giáo sống động, đích thực (FS 1852, S. 3).
24. Chúng ta xác tín như đinh đóng cột rằng lỗi lầm lớn lao của Kitô giáo về mặt xã hội là ít quan tâm hoặc quan tâm một cách sai lạc về quần chúng tầng lớp lao động (FS 1852, S. 183).
25. Đây thực không phải là lúc cho tay vào túi, thất vọng và thụ động nhìn xem cảnh tượng khủng khiếp đang từ từ mở ra cho thấy những biến cố chính trị mới mẻ của thế giới, để rồi cuối cùng đi đến chỗ bào chữa rằng mọi tranh chấp, đấu đá sẽ chẳng giúp được gì, vì kẻ thù của chúng ta quá mạnh và người ta không thể thay đổi được những điều sẽ phải xảy đến (RV 1857, S. 460).
26. Ngày nay, hơn bao giờ hết, chúng ta tin rằng bổn phận của một công dân Kitô hữu là phải dùng những phương thế và sức mạnh Chúa ban, bởi đó phải hợp pháp, để tự bênh vực và đấu tranh cho được chu toàn những bổn phận của mình bằng mọi cách có thể. Những điều tốt lành thánh thiêng nhất của con người đang bị đe dọa, nên không ai có thể đứng nhìn một cách bàng quan. Do đó, chúng ta tín thác cho Thiên Chúa và làm những công việc thường ngày của mình, hi vọng rằng sẽ được Thiên Chúa chúc lành (RV 1860, S. 554 f).
27. Nếu có lúc nào chúng ta có thể bày tỏ tình yêu đối với người khác một cách sâu xa hơn, biểu lộ một Kitô giáo có tính thực tế hơn, thì hiện tại sẽ trở nên tốt đẹp hơn và tương lai sẽ rực rỡ hơn (KT.1859, S. 150).
28. Dẫu sao, chúng ta tin rằng điều rất quan trọng trong những ngày này là công khai chống lại mọi gian dối, nói cách khác là chống lại mọi điều phi Kitô giáo trong đời sống chính trị công cộng (RV 1858, S. 804 f).
29. Thế giới Kitô giáo không thể và không được cố tình tránh né xung đột, bởi vì giữa Thiên Chúa và Xa-tan, không thể có thái độ trung lập (RV 1859, S. 699).
30. Hãy đứng dưới lá cờ của bạn! Đây là một yêu cầu đúng đắn và còn hơn thế nữa trong tương lai. Cầu nguyện và hi sinh là những khí giới đầu tiên và thiết thân nhất của chúng ta, và chúng cũng có tác động trên thế giới. Hãy đẩy xa sự dối trá chừng nào có thể được, cho dù nó được ngụy trang bằng lời nói hấp dẫn. Hãy bám chặt lấy Đức Tin và hãy trung thành với trật tự thánh thiện của con người trong thế giới, và chúng ta sẽ cảm nghiệm rằng Đấng ngự trên chốn cao xanh sẽ nhìn xuống đoàn con nhân loại của Ngài và sẽ lắng nghe lời đoàn con ấy ca ngợi danh Thiên Chúa, chứ không phải danh nào khác, cho dù thế giới đã bắt đầu lung lay tự nền tảng sâu xa nhất (RV 1860, S. 73).
Chương 22
Người ta thường thiếu Đức Tin đích thực
1. Này đây sự bất mãn phổ quát trên thế giới! Chúng bắt nguồn từ đâu? Hiển nhiên là không phát xuất từ Thiên Chúa. Ngài an bài mọi sự theo cách khiến con người được mãn nguyện, nếu con người sẵn lòng trở nên công chính. Vì thế, hẳn là do lỗi lầm riêng của con người, như đã nói trước đây, nhưng người ta thường chẳng bao giờ có thể nói đầy đủ cho mọi người ghi nhớ (RV 1858, S. 379).
2. Mọi khổ đau mà thế giới ngày nay oán trách đều do con người gây nên. Chính con người đã quay lưng lại với Thiên Chúa và lề luật của Ngài. Và thật là rồ dại, lúc này đây con người đã bắt đầu tìm kiếm hạnh phúc, tự do và bình an là những thứ dẫu sao vẫn không thể tăng triển trên vùng đất vô thần và bất tín (VK 1863, S. 5).
3. Sự bất tuân chống lại Thiên Chúa đang lan tràn là nguyên nhân gây nên nỗi khốn khổ của chúng ta, và bao lâu tình trạng đó chưa được cải thiện thì vẫn chưa thể cải tiến hoàn cảnh chung của chúng ta (KP 31.1.1848).
4. Thảm họa to lớn trên trần gian, trong mọi mối tương quan lệch lạc, chính là việc người ta không chấp nhận đường lối Thiên Chúa dành cho con người và điều Thiên Chúa đặt định cho con người thực thi. Nhưng con người chỉ hành động theo trí óc suy đồi của mình, trí thông minh và những ước vọng lầm lạc trong tim mình. Đó là lý do làm cho mọi sự trở nên lầm lạc vì tất cả đều tách rời khỏi trật tự đúng đắn được Thiên Chúa thiết lập. Điều này áp dụng cho cuộc sống gia đình cũng như cho quốc gia, cho tiền bạc và của cải cũng như cho sức mạnh nội tâm và trí năng của con người (FS 1851, S. 50 f).
5. Những cái đầu của giới siêu đẳng không chấp nhận được rằng tôn giáo là kim chỉ nam duy nhất cho các nguyên tắc sống của chúng ta; nhưng thế giới từ chối chấp nhận nguyên tắc của mọi nguyên tắc này vì thế giới tin rằng nó có thể đạt được những mục tiêu của mình mà không cần nhờ đến bàn tay hướng dẫn của tôn giáo (KS 2, S. 14).
6. Mọi người đều muốn được tự do, được vượt ra khỏi các giới hạn cuối cùng của luật pháp. Không ai muốn biết gì về sự tuân phục. Mọi người đều muốn chiều theo điều mình ưa thích. Và những người có cơ hội đều đã lập tức rời bỏ Kitô giáo để chạy theo các thần tượng trần gian như những người ngoại đạo xưa kia đã làm. Họ mê đắm tiền tài lạc thú, và bây giờ đang phải đau khổ vì những hậu quả của các đam mê xác thịt và kiêu căng của họ (KP 3.4.1846).
7. Kinh nghiệm dạy chúng ta rằng sự dữ cũng có những hậu quả của nó, và là những hậu quả thực khủng khiếp như giờ đây ta có thể thấy (RV 1859, S. 540).
8. Khi người ta rời bỏ con đường của lề luật cũng như quyền lợi thánh thiện và vĩnh cửu, thì người ta chỉ tin vào sáng kiến riêng của mình, chúng thường chỉ hỗ trợ và làm việc cho lợi ích chung chung. Khi người ta hiểu, hay đúng hơn là hiểu sai, và xử lý những sự việc và cơ cấu loài người chỉ bằng ánh sáng trần gian mà không nhìn thấy sự liên hệ trực tiếp với Thiên Chúa và sự vĩnh cửu, thì kết quả chỉ có thể là rời xa đường ngay nẻo chính… nghĩa là đi vào chốn hoang vu, nơi mọi sáng kiến loài người đều không thích hợp và cuối cùng phương tiện bị lật nhào, và mọi quyến rũ sẽ bị nghiền nát (RV 1858, S. 379).
9. Con người sống và làm việc như thể họ khó lòng bận tâm đến Kitô giáo và sự sống đời đời của họ (RV 1857, S. 8).
10. Đó là sự khốn cùng của thời đại chúng ta: con người sống nửa vời, không muốn mất lòng Chúa, đồng thời chắc chắn hơn, cũng không muốn mất lòng Thần Dữ; đó là lý do khiến Thần Dữ đã có thể lấn lướt đến thế (RV 1856, S. 744)
11. Mối lo chính đáng của những người có óc tổ chức là không để lỡ chuyến tàu… nhưng hầu hết con người ngày nay đều mù quáng đâm đầu vào một thế giới xa lạ mà chẳng cần đặt cho mình một mục đích thực sự nào cao cả hơn, chẳng cần lo lắng gì về số phận của mình, nghĩa là còn khá mơ hồ; tuy vậy, người ta vẫn chẳng bị đối xử và coi là lạ lùng cũng như vô trách nhiệm (RV 1863, S. 421 f).
12. «Thành công» là lý tưởng của thời đại chúng ta, được thế giới chính trị lầm lạc tôn thờ và dành cho mọi thứ: vinh dự, quyền lợi, ý thức và tự do (RV 1860, S. 345).
13. Đa số trong xã hội đang rời bỏ Kitô giáo như là kết quả của sự tách biệt tôn giáo ra khỏi những mối quan tâm được coi là trần thế. Đây là một trọng tội phổ biến chống lại xã hội, và tội lỗi này đã gây ra nhiều nỗi khốn khổ lớn lao cho chúng ta về mặt xã hội (RV 1860, S. 796).
14. Thời đại chúng ta từng được giáo dục rất tốt, từng quá khôn lanh, từng được tô điểm quá mức như chưa từng có thời đại nào trước đây được như thế. Nhưng vẫn có điều gì đó thiếu vắng trong thời đại chúng ta, và tâm hồn con người vẫn mãi khát khao điều ấy. Đó là niềm vui, niềm hân hoan đích thực dựa trên Niềm Tin tươi trẻ và hạnh phúc, rằng Chúa chúng ta ngự trên Trời vẫn thống trị thế giới (KT.1858, S. 223).
15. Lễ Giáng Sinh là ngày lễ Sinh Nhật Con Thiên Chúa, Đấng đã trở nên Hoàng Tử của Hòa Bình được chờ đón từ lâu. Trời Cao đã mở ra trên chỗ nơi Ngài sinh ra và các Thiên Sứ đã chúc tụng Thiên Chúa, công bố Bình An cho mọi người thiện tâm trên dương thế. Tuy nhiên, nếu ai nhìn lại thế giới hôm nay và nhớ đến ngày Lễ Giáng Sinh đầu tiên ấy, thì người đó lắc đầu là phải, vì thế giới con người, thế giới chính trị ít có dấu hiệu của Ơn An Bình đã được các Thiên Sứ loan báo. Tuy nhiên, các Thiên Sứ đã không loan báo một lời tiên tri giả, và thế giới ở trong tình trạng hỗn độn như hiện nay chẳng phải là do lầm lỗi của Thiên Chúa, Chúa chúng ta, Đấng xưa kia đã đặt Con của Ngài vào trong một máng cỏ nghèo hèn ở Bê-lem. Và chỉ có con người tà tâm mới đáng bị khiển trách về điều này, và số người tà tâm hẳn là nhiều vô số, vì sự dữ đang lan tràn đến nỗi khiến người ta khó mà tìm được chỉ một nơi thôi, lành mạnh và bình an trên trái đất (RV 1861, S. 808 f).
16. Thật là điều khôi hài cho «bình an trên địa cầu» ngày nay, như kinh nghiệm nhìn lại và thực tế cho thấy rõ. Nhưng đối với mọi người chịu khó nhìn xem, thật rõ ràng minh bạch rằng nếu con người không thể giữ hòa bình trên trần thế, mà cứ mãi đánh nhau để rồi phải trả giá đắt cho chuyện đó bằng cái chết, thì đó không phải là lỗi của Thiên Chúa hoặc của Kitô giáo. Chỉ có con người là đáng bị khiển trách vì có nhiều ham muốn, xin lưu ý là thứ ham muốn làm tăng thêm tính ích ky, nhưng lại có ít thiện tâm (RV 1855, S. 810).
17. Sự thiếu vắng chân lý và tình yêu Kitô giáo tạo nên một gánh nặng đặc biệt nặng nề trên cơ cấu chính trị và xã hội đến nỗi một ngày nào đó chắc chắn người ta phải tìm một giải pháp (RV 1860, S. 181).
18. Con người vẫn tiếp tục trên cái bướu dị thường này của thế giới, như con người vẫn luôn làm thế. Con người có thể dễ dàng sống trong bình an và sống trên trần thế gần như các thiên thần trên trời cao, nhưng con người sẽ không làm như thế. Họ không muốn thế vì họ không muốn cố gắng trong nơi chốn tạm này. Bởi vì nếu tất cả họ đều là các Kitô hữu có khả năng, biết suy nghĩ thật sâu xa hơn về Thiên Đàng và quan tâm nhiều đến Quê Trời cũng như đã quan tâm đến cuộc sống trần thế, nhờ đó họ đã cố gắng khắc phục lỗi lầm của riêng mình thay vì thích chí đối với lỗi lầm của người khác, thì chẳng bao lâu tất cả bọn họ sẽ được đầy đủ trên trần thế và sẽ sống hòa hợp với nhau hơn hiện nay nhiều. Nếu con người kính sợ Thiên Chúa, họ sẽ không dối trá và lừa đảo nhau, nhưng sẽ sống cởi mở và ngay thật nhờ đó tránh được nhiều oán ghét, xung đột và đấu đá. Nhưng đức tin đích thực và lòng kính sợ Thiên nói chung là đang thiếu cho nên mọi chuyện vẫn theo nếp cũ. Bởi thế nên ngay cả gia đình của mỗi người cũng có thể bị xáo trộn, nên vẫn có căm thù và xung đột ngay cả trong lãnh vực chính trị chóp bu; nơi thực ra chỉ là phản ánh cho những chuyện mặc cả ở các cơ chế nhỏ hơn của con người mà thôi (RV 1858, S. 681).
19. Nhưng chúng ta không thể chối cãi được rằng: đang lúc chúng ta viết và bàn thảo về giá trị không thể đo lường được của lợi ích vật chất, về văn hóa và về sự tiến triển của các sự việc «nơi trần thế này», thì con người càng lúc càng trở nên cách xa nhau hơn, có khi là vô tâm hơn ngay cả ở nơi mà họ xem ra gần gũi với nhau hơn… Người ta không có thời gian thực sự dành cho nhau nhưng chỉ chú ý đến cách nào tốt nhất để khai thác và sử dụng người khác theo mục đích riêng của mình (RV 1857, S. 122).
20. Phải chăng mọi sự do Kitô giáo giảng dạy, đặt để, đòi hỏi và đề xuất đều chân thật và do đó không đáng ngờ? Người ta càng suy nghĩ về điều đó thì toàn bộ giáo huấn Kitô giáo càng xông đánh lương tâm cách nặng nề và sâu xa hơn. Rồi cuộc sống và công việc nơi đại vũ đài chính trị lớn hay nhỏ hẳn phải xem ra trống trải, hụt hẫng và tầm thường, hay đúng hơn là đần độn và sai lạc, nếu không nói là điên khùng tới mức phạm những tội ác chống lại Thiên Chúa và bản chất của các sự việc (RV 1858, S. 233).
21. Dẫu sao thì không chắc là liệu thế giới trước đây có nhẹ dạ hơn bây giờ không; liệu thế giới trước đây có nói dối một cách khinh suất và cố chấp nhân danh phục vụ cho việc «khai sáng» và «tiến bộ» hơn ngày nay không; và liệu trước đây đã từng có điều gì giống như sự hỗn loạn mà ngày nay người ta có thể nhìn thấy khắp nơi không; liệu người ta có lưu tâm đến việc nhìn xem thế giới một cách khách quan không (RV 1861, S. 618).
22. Đấu trường trong cuộc sống vẫn và sẽ mãi đầy dẫy những sai lầm, tội lỗi và ăn năn của con người. Tất cả những điều đó được nối kết với nhau như một sợi dây xích, và dường như tiếp nối nhau cách đều đặn, nếu trong thời gian dài thì lại có những khoảng cách. Con người ngày nay làm nhiều việc, tạo ra nhiều thứ và dấn sâu vào chính trị vì lợi ích của riêng mình trong khi gạt bỏ Thiên Chúa ra ngoài, đến nỗi người ta có thể nói rằng con người nói chung là thiếu lòng kính sợ Thiên Chúa, là hoa trái nhất thiết phải có của một đức tin sống động; và vì thiếu lòng kính sợ Chúa, vâng, mà các sự việc vẫn chỉ là như cũ (RV 1857, S. 568).
23. Khi con người bắt đầu nhìn vào cuộc sống và thế giới bằng cách nhìn ít tính chất Kitô giáo hơn, con người đã trở nên ích kỷ hơn, chỉ suy nghĩ về «lợi ích» cá nhân riêng biệt của mình và vì thế, do không còn nhận ra những hậu quả gây tai họa, con người đã dần dà lơi lỏng những mối liên hệ cá nhân, nên cũng lơi lỏng mọi mối liên hệ với người khác cho đến khi khó lòng còn lại điều gì ngoài lòng vị kỷ (RV 1865, S. 584).
24. Khẩu hiệu tranh đấu của thời hiện đại, «Phúc âm» hầu như của những «kẻ hiện sinh» vẫn được la lớn khắp tứ phương, như mọi người đều biết, được gọi là «Phúc lợi chung». Chúng ta cũng biết thứ phúc âm mới mẻ có nanh vuốt này đã có được nhiều kẻ ủng hộ và tín đồ, là những kẻ đã cống hiến trọn vẹn cho những lời hứa hẹn này. Khi Phúc âm thánh thiện truyền thống do Đấng Cứu Thế mang từ trời xuống rảo qua mọi điều nhân thế để ca ngợi những điều lành vĩnh cửu, thì phúc âm của những «kẻ hiện sinh» không màng đến «phúc lợi chung vĩnh cửu», không nói về thứ phúc lợi ấy. Tôi tin là nó còn không nghĩ đến, hay ít nhất là không muốn nghĩ đến thứ phúc lợi ấy, mà thậm chí lại tập trung nhiều hơn vào phúc lợi trần gian. Mọi điều cần trên trần thế, trong cuộc sống, để thỏa mãn những nhu cầu của con người, những ước muốn của ngũ quan, hẳn phải được thỏa mãn theo ý những người ủng hộ cho những «kẻ hiện sinh», vì họ chỉ thích được sung sướng hơn là thích được thành toàn (RV 1857, S. 664).
25. Người ta nói rằng thời đại của chúng ta là thời đại «Khai sáng». Phải, người ta phải được khai sáng, được khai sáng về sự vô tâm, được khai sáng về sự vô luân, sự từ khước Thiên Chúa và Giáo hội, được khai sáng về những người mà sự lãnh đạo của họ vẫn được người ta tín thác cho đến nay, được khai sáng về Kitô giáo chân chính và những điều khác mà chỉ là Kitô giáo trên danh nghĩa mà thôi (KP 2, S. 91)
26. Con người thường biết cách đối xử với thiên nhiên; không may sự «tiến bộ» này chỉ giới hạn ở những sự việc bên ngoài. Con người rõ ràng không thành công lắm trong việc đối xử với nội tâm, bản tính con người, sự chế ngự đam mê, sự vượt thắng đam mê, tham lam và trụy lạc cùng sự kiêu căng vô độ. Vâng điều đó vẫn không xẩy ra, dù rằng các nhà khoa học đang đạt được nhiều tiến bộ trong các địa hạt bên ngoài (RV 1864, S. 659).
27. Đó là cách sống của con người ngày nay. Người ta càng ít hiểu biết về linh thánh thì lại càng đề cao và dựng bàn thờ cho cái hay chết hơn (RV 1856, S. 343).
28. Kể cả nhiều người được gọi là đạo đức cũng tin rằng nếu họ đi nhà thờ đều đặn và đôi khi làm việc bác ái, thì họ đang làm đầy đủ đối với Đạo Kitô rồi. Dẫu sao, chỉ có một ít người nhớ áp dụng những nguyên tắc Kitô giáo vào đời sống hằng ngày và vào việc buôn bán làm ăn; và chỉ có một số ít là được tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân hướng dẫn trong quyết định và trong cách cư xử của mình (RV 1857, S. 486).
29. «Mọi sự đều yên nghỉ trong Chúa» là câu nói được các bậc tiền nhân rất mực đạo đức của chúng ta phát biểu và thực hành. Các vị đã nhận niềm vui, nỗi khổ trong tâm tình tạ ơn và lời cầu nguyện tin nhận rằng không gì xảy ra trên trần thế mà không có bàn tay của Đấng Cứu Thế đang can dự và hướng dẫn thế giới theo kế đồ khôn ngoan và vĩnh củu của Ngài. Niềm tin sâu xa này phổ biến giữa mọi người và bao hàm cả những biến cố thường ngày tầm thường nhất. Đó chắc chắn là một thực hành hợp lý vì chẳng có một sợi tóc nào trên đầu con người rơi xuống mà không do ý Chúa. Ngày nay, khi có một tỷ lệ to lớn những người chỉ tin vào lý trí của mình và vì thế gắn niềm hy vọng của họ vào những nguồn mạch trí tuệ nghèo nàn của riêng họ, thì niềm tin Kitô giáo chân chính, kỳ diệu, luôn có sức ủi an, là «mọi sự đều yên nghỉ trong Chúa» đã trở nên hiếm thấy nơi con người, và nhiều người khước từ niềm tin ấy một cách thẳng thừng trong cách cư xử của mình. Mọi Kitô hữu tốt đều biết rằng con người chẳng nên xử sự như thế thì tốt hơn, vì thực ra, cảnh bất hạnh của thời đại chúng ta là bằng chứng cho thấy hậu quả đang lớn dần của việc chối bỏ Thiên Chúa mà do bản chất của nó nên không thể mang lại phúc lành được (RV 1857, S. 317).
30. Phải chăng con người bất hạnh là do lỗi lầm của Thiên Chúa? Không, đó là vì lỗi lầm của riêng chúng ta (FS 1851, S. 54).
Chương 23
Rõ ràng chúng ta đang sống
trong một thời kỳ khủng hoảng
1. Hầu hết mọi người, bất luận địa vị xã hội hoặc cái gọi là trình độ giáo dục, đều rất cả tin, nếu không vào mọi sự, thì ít nhất cũng cả tin vào nhiều điều. Thế mà có điều đã được thử thách qua hàng bao thế kỷ, thậm chí qua hàng ngàn năm thì họ lại thấy khó tin, và còn chống lại hết sức quyết liệt. Nhưng nếu có điều gì sốt dẻo, đượm mùi thời thượng và thoải mái hoặc ít là có vẻ vô hại thì cho dù có thể là rỗng tuếch hão huyễn, điều đó vẫn tìm được nhiều kẻ a dua ủng hộ (RV 1859, S. 707).
2. Vì mọi người khác trên đời đều làm như thế, nên có kẻ tin rằng mình cũng có quyền làm như vậy. Mà vì thế gian đã sản sinh ra nhiều nguyên tắc và tập quán sai lầm khi chạy theo tiền bạc của cải, nên nhiều Kitô hữu, thường là không có ý xấu, vẫn bị lôi kéo theo những nguyên tắc sai lầm ấy. Điều này có lẽ là do sai lầm hơn là do cố ý lừa dối (RV 1857, Tr 487).
3. Ngày nay, điều quan trọng là người ta thường dụ dỗ thuyết phục đúng lúc và đúng cách những người thường chẳng có ý kiến riêng của mình (RV 1860, Tr 459).
4. Tinh thần phi Kitô giáo rất có tài quảng bá các danh từ và khái niệm mà lúc đầu có vẻ không nguy hiểm, có vẻ cởi mở cho mọi người phê phán. Nhưng trong khi đó nó biết mình muốn gì, nó dựa vào sự mơ hồ trong đầu óc người ta và sự mơ hồ của các khái niệm, vì thừa nước đục thả câu là một phần việc của tinh thần phi Kitô giáo (RV 1858, S. 805).
5. Những kiểu nói mơ hồ rất phù hợp với thời đại chúng ta, khi một số lớn các diễn giả và văn sĩ ẩn nấp đàng sau những kiểu nói huênh hoang, nếu không muốn nói là rỗng tuyếch; những kiểu nói ấy có thể khiến cho người nghe và độc giả hoảng sợ, nhưng chúng vẫn không giải thích được cho rốt ráo là họ đang nói, đang viết về cái gì (RV 1859, S. 27).
6. Một đặc trưng của thời đại chúng ta là nêu lên một số tên tuổi nào đấy đã có được một vị thế nào đó qua những biến cố cũ rích trên thế giới mà hầu hết mọi người thật ra không nghĩ đến hoặc chẳng buồn nghĩ đến việc những tên tuổi hay những tước hiệu này thực sự có ý nghĩa gì và có giá trị gì (RV 1854, S. 417).
7. Rõ ràng là chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng bao gồm cả về đời sống chính trị lẫn xã hội. Cuộc khủng hoảng này gây nên sự băng hoại, các thế lực bảo thủ và phá đổ hẳn là tách biệt nhau hơn bao giờ hết và đối chọi với nhau. Mọi cái nửa vời, lấp lửng, nửa nạc nửa mỡ đều không thể tồn tại lâu dài. Chúng ta tin rằng tình trạng đó biến đi sớm chừng nào càng tốt chừng đó, và nếu cần phải có một quyết định có tính lâu dài thì nên càng sớm càng tốt. Cuộc xung đột công khai mới đây giữa các lực đối kháng, sự biểu lộ trần trụi thẳng thắn các nguyên tắc đối nghịch nhau khiến cho chúng trở nên quá rõ ràng đến nỗi ngay cả kẻ ngu đần nhất cũng có thể hiểu được. Thà trắng đen rõ ràng như thế, sau cùng lại rất là tốt cho ơn cứu độ của chúng ta hơn là sự nửa nạc nửa mỡ bán tín bán nghi và bấp bênh, hết nghiêng qua tả lại ngả sang hữu, rồi lại qua tả… khiến cho mười người thì đã hết chín không còn khả năng suy nghĩ, và họ… không còn biết đường đối nhân xử thế nữa (RV 1862, S. 297).
8. Rõ ràng là thời đại chúng ta thích hợp với việc làm đảo lộn các điều kiện và cấu trúc công cộng. Người ta sợ hãi điều gì đó và chuẩn bị chống lại điều ấy, mà thật ra không biết nó là gì; nhưng người ta cũng không thể thoát khỏi nỗi sợ hãi đè nặng trên mình. Người này bắt chước người kia, ai cũng khó nhọc, ai cũng quằn quại vì người ta không thể tin vào ai cả, hay bất cứ điều gì ở tương lai, cho dù là nhỏ mọn nhất. Cũng có những nỗ lực mạnh mẽ để tạo ra và nâng cao phúc lợi công cộng, và hậu quả là con thuyền quốc gia càng chìm sâu hơn, càng trở nên khó khăn hơn bao giờ hết trong việc giữ cho nó có thể vượt sóng đại dương và tiếp tục cuộc hành trình (RV 1859, S. 532 f).
9. Thử hỏi có khi nào nhiều luật lệ được thông qua hơn ngày nay, và có khi nào, trong các thời kỳ Kitô giáo, tự do bị đe dọa hơn lúc này không? Thử hỏi có khi nào người ta nói năng và hò hét về sự tiến bộ chính trị nhiều hơn ngày nay, và có khi nào sự khốn khổ và buồn phiền lớn hơn ngày nay không? Người ta không thể tìm thấy một kết cục cho tình trạng ấy vì ngay từ đầu đã bị lạc hướng rồi; người ta làm ra vẻ khôn lanh, nhưng không phải là khôn ngoan, vì như Thánh Kinh bảo cho chúng ta biết, khởi đầu của sự khôn ngoan là lòng kính sợ Chúa. Tuy nhiên theo giáo huấn của thế gian này thì điều ấy đã lỗi thời rồi (RV 1865, S. 133 f).
10. Không gì ít được cảm thông và bấp bênh hơn là việc thông qua các luật lệ có tham vọng trở thành kiểu mẫu, phán xử, quán triệt và thống soái đời sống xã hội đã bị đổ vỡ theo một kế hoạch đầy thiên kiến, theo các lý thuyết trừu tượng, và theo những diễn dịch về đời sống có tính cách cá nhân. Không gì phù phiếm hơn là những nỗ lực cải tổ thị hiếu, là một phần của thời đại chúng ta vì nó không có trong bất cứ thời đại nào trước đây. Căn bệnh của thời đại đã tạo ra nỗi khó chịu trong xã hội tệ hại hơn trước vô cùng và dường như dẫn đến một cơn khủng hoảng không còn hy vọng gì được nữa. Chúng ta bị giết chết bởi vô số luật lệ và nội qui, những thứ chụp xuống và thâm nhập cuộc sống của chúng ta đến tận những lãnh vực trần tục nhất của nó, như là những ký sinh trùng cướp đoạt đi nhiều ánh sáng và không khí cần thiết của cuộc sống thực để rồi cuối cùng làm hao mòn và làm cho nó phải chết ngạt. Cũng theo cách đó, những nhu cầu gia tăng và đời sống trở nên đắt đỏ hơn đến nỗi người ta muốn và cần nhiều thứ để duy trì lối sống của họ; cũng thế, sự tin tưởng và tín thác trong đời sống xã hội bị giảm thiểu, những doanh nhân xuất hiện khắp nơi, tham ô và lừa lọc là chương trình làm việc của họ (VO 1850, S. 21).
11. Một số người muốn duy trì trật tự cũ bằng bất cứ giá nào, một số khác muốn vứt bỏ nó đi bằng mọi giá, để thay thế nó bằng một phát minh mới mẻ nào đó, người kéo về bên phải, kẻ lôi về phía trái. Có người muốn thoát khỏi áp bức, kẻ khác muốn gia tăng áp lực để bảo vệ tự do của riêng mình; có nhiều cuộc đấu tranh vượt ra ngoài luật pháp, nhưng chẳng người nào trong các đối thủ đầy mưu chước kia có khi nào tìm kiếm chân lý, chẳng có chân lý vĩnh cửu, cũng chẳng có chân lý loài người (RV 1857, S. 318).
12. Điều lạ kỳ, tuy không khiến ngạc nhiên, là đặc biệt những người xem ra không để ý đến những lời tiên tri linh thánh, cho dù là dở tệ nhất hay chắc chắn nhất, thì người ta cũng nhạo cười nếu trên thực tế những lời tiên tri này được nói đến, trong khi đó thì họ lại tin chắc vào những lời tiên đoán của con người với sự trọng thị đến mức rõ ràng là họ cũng sẽ tin vào một thứ tinh thần giả mạo nào đó hoặc vào các bậc thầy thực hành một thứ khoa học nào đó mà không được chứng minh (VK 1864, S. 2 f).
13. Vâng, thật là chuyện đáng buồn về tình trạng của những sự việc con người. Kẻ nào mải mê theo những chuyện ấy quá nhiều chỉ tổ phải vất vả và sẽ phải bị dằn vặt, vì sự trung thành và bền đỗ không thể dựa vào những chuyện thế gian ấy. Tuy nhiên chẳng ai có thể cưỡng lại sự mời gọi quyến rũ của chúng. Có bao nhiêu con thiêu thân rụi cánh trong ánh đèn và những con khác vẫn tiếp tục lao vào đâu có thành vấn đề gì đâu (RV 1864, S. 777 f).
14. Đang khi những kẻ bênh vực vô tín và cách mạng không bỏ lỡ một cơ hội nào để tranh thủ sự ủng hộ cho những mục tiêu của họ, và dù có ý thức về ý đồ xấu xa của mình, họ vẫn tạo cho mình dáng vẻ tự tin bằng cách la hét một cách trâng tráo và những màn phô trương ngạo mạn, thì thế giới Công giáo vẫn tiếp tục làm công việc thường ngày của mình mà không nghi ngại đến một sự tổn hại nào, vẫn ít hoặc không hề để ý đến những sự việc xảy ra bên ngoài hoặc có khi ngay bên cạnh để rồi buồn rầu thấy rằng các đối thủ đã lại dành thêm một thắng lợi nữa, nhưng lại nhanh chóng tự an ủi với ý nghĩ là mình có chính nghĩa và chắc chắn kết cuộc rồi sẽ thắng, mặc dù chẳng làm được điều gì để bù lại quá khứ, hoặc chẳng có gì sáng lạn hơn trong tương lai. Trong khi đó các đối thủ vô lễ dạo chơi và biết cách hăm dọa người thiện chí nếu họ nghi ngờ, đến nỗi trước cuộc chiến người ta đã dọn dẹp sạch sẽ chiến địa rồi. Đúng là người ta chẳng bận tâm tìm cách biết được những sự thực về chính nghĩa của mình, và bởi đó không biết nói gì trước sự hiện diện của những người khác, đồng thời cảm thấy mình phải đồng ý với đối thủ về một đôi điểm, họ kém ý thức về những hậu quả xấu do những khởi đầu như thế (RV 1865, S. 262).
15. Tự bản chất, chân lý, quyền lợi, theo đó là phần tốt đẹp hơn nơi con người cùng với sự tận tâm, kém mạnh mồm và chẳng mấy thích tự quảng cáo hơn là sự dối trá hoặc đam mê. Bản chất của đam mê và dối trá là ồn ào, không ở yên, chạy nhảy và trôi nổi. Đây là lý do làm cho sự thiện hảo thường ít được nhận thấy và không chi phối được tâm trí con người. Sự thiện hảo và những con người bình thường được liên kết với nhau trong dòng chảy của đời sống Kitô hữu bình thường một cách hết sức thiết thân đến nỗi người ta không muốn om sòm lên về chúng. Vâng, quá thường là chính những con người bình thường tin rằng sự thiện hảo tự nó rành rành ra đó, và do vậy người ta không thể hiểu làm sao có thể khác đi được. Vì thế người ta không quan tâm đến nó cho đến khi tai ương đe dọa. Vì lý do này, phía đối phương xem ra bề thế hơn rất nhiều so với thực lực của nó, vì nó biết cách tự phô trương thanh thế và cũng đủ xấc xược để đòi hỏi quyền uy bất cứ lúc nào có cơ hội nổi lên. Trong khi đó những người ủng hộ chúng ta có khuynh hướng quá khiêm tốn và lặng lẽ kêu cầu Chúa trong khi chính họ là những người phải đứng ra bảo vệ (RV 1860, S. 180).
16. Một trong những điều xấu xa tồi tệ nhất của đời sống chính trị và phi chính trị là người ta có khuynh hướng lý luận hời hợt về mọi chuyện lẽ ra có thể được tranh luận với nhau. Khi một người đã lên tiếng phê bình về một đề tài công cộng, thì người thứ hai và thứ ba sẽ tham gia, không phải chỉ về vấn đề này, vấn đề kia, không đâu, mà nhiều người khác cũng không đồng lòng với ý kiến của họ và người ta sẽ phải thay đổi. Đa số con người không đủ trình độ nhìn vào vấn đề một cách bình tĩnh, xem xét kỹ lưỡng, phán đoán cẩn thận, vì nó đòi hỏi mất quá nhiều thời gian và công sức, không thích hợp với sự an nhàn. Quả có dễ dàng hơn nhiều khi theo ý kiến của tờ báo đầu tiên mà người ta cầm được trong tay và nhìn mọi sự theo quan điểm của tờ báo ấy. Như thế người ta đỡ rắc rối phải suy nghĩ về chính mình và phải xem xét các sự việc, dẫu sao thì một số đông người cũng đang làm đúng như thế, và một khi có lâm nguy chắc hẳn sẽ có đủ tiếng nói đứng sau lưng bảo vệ. Bởi thế sự suy diễn tiếp tục cho đến khi không còn gì để tranh luận về một đề tài nữa, khi đó người ta chuyển sang đề tài kế tiếp và toàn bộ trò chơi đáng tiếc lại tiếp tục. Thực ra, không cách gì cải thiện lối sống ấy; chỉ có sự hời hợt của con người tiếp tục phát triển mà thôi, và có vài điều tốt đẹp còn bị tổn hại mà ta có thể thấy được dễ dàng. Ngay cả sự việc, dù đó là điều gần bên họ như bóng với hình hoặc xa tít tắp như chiến sự bên trời Tây, thì nhiều người tin là họ nên tranh luận, thực ra là phải tranh luận về mọi chuyện. Nó chẳng ích gì cho việc phát triển các điều tốt, nhưng thường dẫn tới sự ngu xuẩn quá mức đến nỗi người ta mất cả trí phán đoán về những điều gần gũi với mình nhất, đang khi người ta vẫn thấy mình phù hợp với việc đưa ra phán đoán về những vấn đề hệ trọng quốc gia. Những kẻ lái buôn chính trị dựa vào ước vọng phi lý này để lập luận và thủ lợi được khá nhiều về chuyện đó (RV 1857, S. 410).
17. Thứ con người hiện sinh cao ngạo, mạnh mẽ, ích kỷ và tìm kiếm lạc thú ấy là kẻ chỉ yêu mình khi đẹp đẽ quyến rũ, kẻ chỉ dạy con người về hạnh phúc cá nhân và là kẻ không có sứ điệp nào khác ngoài sự thỏa mãn các ước vọng của chúng ta trên trần gian. Đó là kẻ thù của Kitô giáo và không đáng để dạy bảo ai hết. Thực ra, hắn ta còn không biết ngay cả việc giáo dục là gì, và cũng chẳng bao giờ học được điều đó (RV 1855, S. 70).
18. Nhìn vào cái được gọi là giáo dục ngày nay sẽ cho chúng ta thấy những lỗi lầm của thế kỷ chúng ta, cho thấy mọi người đã trở nên ngu xuẩn, đần độn và vô giáo dục như thế nào cho dù là «Giáo dục mọi thứ». Thật quá tệ đến nỗi quả là khó mà dạy bảo cho họ những điều cao cả và xứng đáng hơn đồng thời khó mà dạy cho họ cách thực hành những điều đó trong đời sống thực tế (RV 1854, S. 437).
19. Theo ý tôi, các môn khoa học mới mẻ là những thầy dạy đích đáng! Nếu chúng ta phải chờ đợi những khám phá và kết luận của các môn khoa học ấy về các phương pháp giáo dục tốt nhất, thì tất cả chúng ta hẳn đã phải bò lê bò càng và Trời Cao hẳn đã đổ xập xuống trước khi chúng ta đã học được điều gì đó (RV 1855, S. 421).
20. Cuộc sống trần gian có những mục tiêu cao cả và đáng giá hơn nhiều so với sự khôn lanh theo kiểu con người hoặc việc khảo cứu về tiện nghi cho con người. Hàng ngày, ta có thể thấy được nền giáo dục hiện đại của chúng ta đã và đang dẫn tới đâu. Đã đến lúc phải ngừng lại và gọi những sự vật bằng chính tên gọi của chúng. Đã đến lúc phải thay đổi, đặc biệt ở những chỗ có liên quan đến giáo dục và học đường (RV 1854, S. 455).
21. Thật đáng thương là mọi người đều đề cập đến học đường quá nhiều, mọi người đều bàn về học đường một cách quá đáng như thế có nghĩa là người ta phải đau đầu, cõi lòng người ta bị khô héo, lỗ mũi người ta trở nên bị sụt sịt và mắt phải nổ đom đóm (RV 1854, S. 612).
22. Nếu chúng ta có lý khi thốt lên những lời phàn nàn chua xót về nền giáo dục lầm lạc hiện nay, nếu chúng ta lo lắng và giận dữ khi nhìn vào con cái chúng ta, và nếu đồng thời chúng ta nói lên ước muốn rằng nền giáo dục phải được cải tiến vì tương lai con cái chúng ta tùy thuộc vào đó, rằng một thế hệ được giáo dục tốt hơn sẽ mang lại những thời kỳ tốt đẹp hơn; vậy thì chúng ta sẽ phải tìm kiếm nền tảng giáo dục đích thực và phải quay trở lại với nền tảng đúng đắn, duy nhất ấy. Là những người lớn tuổi hơn, chúng ta chịu trách nhiệm về việc giáo dục con cái nhân danh Thiên Chúa và luật pháp, chúng ta cần quay trở về với nền tảng đúng đắn. Nền tảng đúng đắn duy nhất ấy chẳng gì khác hơn là Đức Tin Kitô giáo sống động do Chúa ban cho. Chúng ta sẽ phải dạy dỗ con người nhìn vào thế giới, nhân loại và cuộc sống con người, nhìn vào mục đích và kết thúc của những thực tại trên dưới con mắt Đức Tin, và dạy cho con người đối xử với tha nhân như những người Kitô hữu chứ không phải chỉ như những con người hay chết (RV 1855, S. 517).
23. Những người khác bị làm cho bất mãn vì họ luôn được cho thấy thấy khía cạnh đen tối của hoàn cảnh. Cuối cùng, ngay cả một người sống bình thường cũng phải suy nghĩ, mọi sự trở nên không thể chịu đựng nổi, và người đó quay nỗi thất vọng và giận dữ của mình về phía những điều được cho biết là nguyên nhân của sự khốn khổ, và vì thế người ta bị làm cho bất mãn. Ngay cả nỗ lực cho người đó thấy những khía cạnh tốt đẹp của cùng những sự việc, thừa nhận sự yếu kém và cắt nghĩa cho họ, cũng chẳng ích gì một khi cõi lòng đã trở nên chai đá và không thể đánh giá đúng mức những khía cạnh tốt đẹp được nữa (RV 1863, S. 694 f).
24. Đám đông càng đần độn, lười biếng và dễ dãi thì «sự bất mãn» càng sớm phát triển, càng sớm bị bịp bợm bởi những điều vô dụng, và có khi bởi cả những điều gây ra tác hại nữa (RV 1863, S. 694).
25. Chúng ta không muốn phủ nhận những bóng tối mịt mù to lớn trong đời sống chung của chúng ta, chúng ta còn lâu mới bảo vệ điều xấu, hoặc đánh giá thấp sự khốn khó về vật chất và luân lý đang hiện có. Nhưng chúng ta cũng xác tín rằng ngày nay vẫn còn ánh sáng bất chấp những bóng tối. Chúng ta còn tin rằng có đủ sự thiện hảo trên thế giới để đảm nhận cuộc chiến chống lại sự dữ đang hiện hữu (RV 1863, S.3).
Nhìn một cách khách quan, thời gian thì bao giờ cũng vừa tốt vừa xấu vào lúc khởi đầu và kết thúc của năm, chỉ có những người tốt hơn mới có thể cải thiện thời gian và chỉ có người Kitô hữu sống đạo mới có thể là một người tốt hơn mà thôi (RV 1857, S. 6).
Comments
Post a Comment