Những câu nói về Trời, về Thiên Chúa

Những câu nói về Trời, về Thiên Chúa

 

Thiên Chúa còn đưọc gọi là Thượng Đế, Đấng Tạo Hóa, Ông Trời, Đưc Chúa Trời, là Đấng hằng hữu, nghiã là lúc nào cũng có, và chính Ngài đã tạo dựng mọi loài, mọi vật, trên Trời dưới đât, hữu hình và vô hình. Niềm tin này không chỉ ở Việtnam, mà phổ quat ở khăp nơi và mọi thời đại:

Thiên Chúa còn đưọc gọi là Thượng Đế, Đấng Tạo Hóa, Ông Trời, Đưc Chúa Trời, là Đấng hằng hữu, nghiã là lúc nào cũng có, và chính Ngài đã tạo dựng mọi loài, mọi vật, trên Trời dưới đât, hữu hình và vô hình. Niềm tin này không chỉ ở Việtnam, mà phổ quat ở khăp nơi và mọi thời đại:

- Trời sinh voi, sinh cỏ. Trời đánh còn tránh miếng ăn.

- Trời sinh, Trời dưỡng. Trời cao có măt.

- Cha mẹ sinh con, Trời sinh tính.

- Trời cho ai nấy hưởng; Trời gọi ai, nấy dạ

- Sống nhờ ơn Trời, chết về chầu Trời.

- Trời cho không ai thấy, Trời lấy không ai hay.

- Trời nào có phụ ai đâu, hay làm thì giàu, có chí thì nên.

- Trời cho hơn lo làm. Chỉ có Trời cứu.

- Mong đèn Trời soi xét. Có Trời chứng giám.

- Không có Trời, ai ở với ai.

- Phí của Trời, mười đời chẳng có,

- Biêt ơn Trời, mười đời chẳng khó.

- Chê của nào, Trời trao của ấy.

- Trời đánh còn tránh miếng ăn.

- Trời sinh con măt là gương,
Người ghét ít ngó, người thương ngó hoài.

- Trời cao đất rộng, em vọng lời nguyền:
Đất Trời còn đó, em nguyện giữ lòng thủy chung.

- Lưới Trời lồng lộng, thưa mà không lọt.

- Thiên bât dung gian. (Trời không dung thứ kẻ gian ác)

- Thiên sinh vạn vật, duy nhân tối linh (Trời sinh ra muôn loài, loài người thì rất cao trọng)

- Đại phú do Thiên, tiểu phú do cần (Giàu to do Trời cho, giàu nhỏ do cần kiệm)

- Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên. (Con người tính kế; thành bại do Trời định đoạt)

- Thuận Thiên giã tồn, nghịch Thiên giã vong (Theo Trời thì sinh tồn, nghịch Trời thì diệt vong)

- Ở hiền thì lại gặp lành, những người nhân đức Trời dành phúc cho.

- Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhân (Trời không phụ người có lòng tôt)

- Duyên ba sinh Trời đã dành sẵn (duyên vợ chồng do Trời săp đặt)

- Trên rừng có cây bông kiểng,
Dưới biển có cá hóa long,
Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong,
Anh đi Lục tỉnh giáp vòng,
Tới đây, Trời khiến cho lòng thương em.

- Ơn Trời mưa nắng phải thì,
Nơi thì bừa cạn, nơi thì cầy sâu,
Công lênh chẳng quản dài lâu,
Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.

- Lạy Trời mưa xuống,
Lấy nước tôi uống,
Lấy ruộng tôi cầy,
Lấy đầy bát cơm,
Lấy rơm đun bếp…

- Nhờ Trời mưa thuận gió hòa,
Nào cầy, nào cấy trẻ gìa đua nhau;
Lạy Trời mưa thuận gió đều,
Cho đồng lúa tốt, cho chìu lòng em.

- Làm trai quyết chí tu thân,
Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo.
Khi nên, Trời giúp công cho,
Làm trai năm liệu, bảy lo mới hào,
Trời sinh Trời chẳng phụ nào,
Phong vân gặp hội anh hào ra tay,
Trí khôn răp để dạ này,
Có công mài săt, có ngày nên kim.

- Con chim nó hót trên cành,
nếu Trời không có, có mình làm sao?
Con chim nó hót trên cao,
nếu Trời không có, làm sao có mình?

- Ngẫm hay muôn sự tại Trời,
Trời kia đã băt làm người có thân,
băt phong trần, phải phong trần,
cho thanh cao mới được phần thanh cao ...

- Duy nhất Thiên Chủ hữu Tam Vị,
Thánh Phụ, Thánh Tử, Thánh Thần Thị,
Tạo thành vạn vật, Tể càn khôn,
Toàn tri, toàn năng, toàn thiện mỹ.

- Trời ơi, sinh giặc làm chi,
cho chồng tôi phải ra đi chiến trường.   
Trời ơi, có thấu tình chăng,
con người nhân ngãi lai căng mất rồi!   
Trời sao Trời ở chẳng công,
người ba bốn vợ, người không vợ nào!   
Trời sao Trời ở chẳng cân,
người ăn không hết người lần không ra.

- Dù ai nói ngược nói xuôi,
Ta đây vẫn giữ Đạo Trời khăng khăng,
Dù ai chác lợi mua danh,
Miễn ta, ta được đạo lành thì thôi.

- Ngày xưa chỉ biết kêu Trời,
Ngày nay đã biết rằng Trời là Cha;
Trần gian không phải quê nhà;
Thiên đàng vĩnh phúc mới là chính quê.

- Thiên đàng địa ngục hai bên.
Ai khôn thì nhờ, ai dại thì sa;
Đêm ngày nhớ Chúa là Cha;
Đọc kinh, cầu nguyện kẻo sa linh hồn.
Linh hồn phải giữ linh hồn;
Đến khi lià xác được lên thiên đàng.

Khổng Tử: "Duy Thiên vi đại" (Chỉ có Trời là lớn)

"Nhân tri nhân bât khả hữu tri Thiên."

(Người còn biêt nhau, không thể mà không biết Trời được.)

"Nhân hữu đạo, bảo thực, noãn y, dật cư nhi vô giáo, tăc cận ư cầm thú."  
(Làm người phải có đạo, nếu chỉ tìm ăn no, mặc ấm, sống vô đạo, thì có hơn gì con vật.)

Chu Tử:  "Thượng Đế gỉa, Thiên chi Chúa tể giả." (Vua trên hêt là Chúa trên Trời.)

Đỗ Trọng Thư:  "Thiên giả vạn vật chi tổ." (Trời là gôc của vạn vật.)

Triêt gia Pascal:  "Nếu muốn tin vào Thượng Đế, bạn phải qùy xuống"

Bác học Pasteur: "Càng nghiên cứu khoa học, tôi càng tin vào Thượng Đế."

Bác học Becquerel:  "Nhờ nghiên cứu khoa học, đã dẫn tôi đến Thượng Đế và tôi có được tin."

Bác học Newton, vì nhìn thấy sự kỳ diệu và trật tự của bầu Trời, ông đã thôt lên:  "Tôi thấy Thượng Đế qua viễn vọng kính."

Bác học Pasteur:  "Miã mai cho lòng dạ con người, nếu chết là hêt, hoặc chết là trở về với hư vô."

Bác học Bourgeois: "Không có gì cản trở tinh thần khoa học hòa hợp với tín ngưỡng đã được suy nghĩ sáng suốt. Trái lại, khoa học càng được đào sâu, thì tôn giáo lại càng được tăng thêm sức mạnh và bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa, lại càng được sáng tỏ hơn."

Văn hào Platon: "Những ai có trí khôn, đều phải kêu cầu Thượng Đế trước khi băt đầu công việc của họ, dù việc lớn, hay việc nhỏ."

Bác học Duclaux: "Nếu sự sống đầu tiên xuât hiện trên mặt đât do tình cờ, nơi mà (vũ trụ này) mọi sự đều có luật, thì sự xuât hiện kia, nó kỳ dị như hòn đá, tự bò lên sườn núi."

Charles Dickens:  “Kinh Thánh Tân Ươc chính là cuốn sách tôt nhât đã từng và sẽ được biêt đến trên toàn thế giới.”

Isaac Newton:  “Kinh Thánh có nhiều biểu hiện chăc chắn về tính có thực hơn bât cứ một câu chuyện nào chống lại sách đó.”

Victor Hugo:  “Nước Anh có hai cuốn sách: Kinh Thánh và Shakespears.  Nước Anh sinh ra Shakespeare, còn Kinh Thánh làm nên nước Anh.”

Napoléon:  “Một dân tộc không tôn giáo, chỉ phải cai trị bằng súng đạn.”

Schiller:  “Trong một nước mà tôn giaó lung lay, thì không chỉ tôn giaó lung lay, nhưng sẽ lung lay tât cả rường cột quôc gia: uy quyền quôc gia, sự tôn trọng luật lệ, kỷ cương, đạo hạnh, luân lý.”

Bác học Albert Einstein:  “Khoa học không tôn giáo là mù lòa, tôn giáo thiếu khoa học là qùe quặt.”; “Thượng Đế không chơi trò may rủi.”; "Tôi chưa hề gặp điều gì trong khoa học của tôi mà lại đi ngược với Tôn giáo."

Bác học Ampere. Một hôm, có người nói với nhà bác học câu này:  “Ngài thật là vĩ đại vì đã phát minh nhiều điều hữu ich cho nhân loại.”     Ampere trả lời: “Con người chỉ vĩ đại khi quỳ xuống cầu nguyện với Thiên Chúa.”

Giáo sư Edwin Carlson, nhà Sinh vật học Trường Đại Học Princeton, Hoa Kỳ:  "Nếu sự sống phát xuất do sự tình cờ, thì cũng giống như một quyển từ điển, xuất hiện do kết quả của một vụ nổ xảy ra ở một nhà máy in."

Giáo sư James Sipson, người phát minh ra phương phap gây mê trong phẩu thuật, khi được hỏi về những phát minh của ông, đã trả lời: “Phát minh quan trọng nhất của đời tôi là tìm được Chúa Cứu Thế Giêsu.”

Triêt gia Kant:  "Không ai chứng minh một cách xác đáng, là không có Thiên Chúa."

Bac học Edison đã ghi vào sổ vàng khi ông đến viếng tháp Eiffel:  "Edison hêt sức khâm phục và ca ngợi tât cả kỷ sư, trong đó gồm cả Thiên Chúa."

Triết gia Pascal: "Người không tin nói, nếu tôi có đưc tin, tôi sẽ bỏ tà dâm. Nhưng tôi bảo anh, nếu anh bỏ tà dâm, anh sẽ có đức tin."

Văn hào Bossuet:  "Những chân lý đời đời không thay đổi của luân lý, buộc ta phải tin có một Đấng Tạo Hóa."

Triêt gia Brunetter: "Đã từ lâu, tôi cố gắng tìm kiếm một nền luân lý vô tôn giáo. Trước hêt, tôi thấy rằng điều này khó thực hiện, sau tôi thấy rằng qúa liều lĩnh, cuối cùng tôi thấy không thể được. Tôi một người thuộc nhóm Tự Do Tư Tưởng. Tôi băt đầu nghiên cứu Thiên Chúa giáo. Tôi đã học hỏi rât lâu, suy nghĩ rât cẩn thận, cuối cùng tôi phải nói rằng, chân lý ở phía chân Trời đó."

Giáo sĩ Moreux, giám đôc đài thiên văn Bourges : "Tôi liên lạc với cac vị giám đôc thuộc hêt mọi đài thiên văn trên thế giới, tất cả đều tin có Thiên Chúa."

Charles Nicolle, người đoạt giải Nobel Y học, năm 1928: “May mắn thay trong tôn giáo có những bí nhiệm. Nếu không tôi sẽ hoài nghi nó, vì cho rằng tôn giáo là do trí loài người tạo ra. Bí nhiệm làm tôi vững tâm. Đó là dấu ấn của Thiên Chúa.”

Nhà Thần Học Millard J. Erickson: "Nếu có một Đức Chúa Trời, thì nói một cách khách quan, bạn và tôi không thể làm gì để giết chết Ngài. Trái lại, nếu không có Đức Chúa Trời, thì dù cố gắng thế nào đi nữa, không một ai trong chúng ta có thể làm cho Ngài thực hữu được."

Alexis Carrel, giáo sư y khoa, giáo sư đại học Lyon, đoạt giải Nobel 1912. Ông là một nhà vô thần, nhưng sau khi chứng kiến phép lạ nhãn tiền tại Lộ Đưc ( Lourdes , France ). Marie Ferrand, từ một cô gái săp chêt, trở nên lành mạnh tức khăc, ông nói: “Thật là một chuyện không thể có, nhưng có thật. Qủa là bât ngờ, một phep lạ mới xẩy ra.”   Không dám tin ở mình. Alexis Carrel mời hai bác sĩ bạn đến chứng kiến và cả hai đều xác nhận cô đã hoàn toàn bình phục. Alexis Carrel đã trở nên tín hữu Công giáo.

Văn hào Victor Hugo: "Thượng Đế là Đấng vô hình xac thực, chối Ngài thì mù quáng điên rồ."

Bác học Chevreul (1786-1889): “Tôi không thấy Thiên Chúa vì Ngài thiêng liêng, nhưng tôi thấy công trình tạo dựng của Ngài”

Bác học Diderot: “Chỉ cần con mắt và cái cánh của con bướm, cũng đủ diệt tan mọi lý lẽ của kẻ vô thần.”

Bác học John Eccles, người đoạt giài Nobel: “Tôi chấp nhận tât cả những lý thuyêt khoa học, nhưng những lý thuyết này không giải thich một chút nào về sự kiện, làm thế nào, tôi, một sinh vật biêt suy nghĩ, đang hiện hữu và có thể làm nhiều điều… Sự sáng tạo linh hồn là một hành động thiêng liêng, điều khoa học không thể phủ nhận, nó hoàn toàn nằm ngoài phạm vi của khoa học”     Ông nói thêm: “Niềm tin của những người chủ trương duy vật chât đang hao mòn; họ không dẫn chúng ta đến đâu cả. Thuyêt ‘khoa học duy vật’ đưa con người đến tuyệt vọng, trống rỗng, vô giá trị. Giá trị thật là vấn đề tâm linh, tình yêu thương, tha thứ, can đảm, bác ái”.

Bác học Taine:  “Vô thần xuât hiện thì tính ich kỷ, bon chen, lưu manh, dối trá, lừa đảo, độc ác và dâm đảng phát tiển mạnh mẽ.”

Bác học Richepin: “Nếu thật sự Thiên Chúa chẳng là gì, hoặc  thật sự Thiên Chúa không hiện hữu, thì tại sao các ông vô thần sợ Ngài, công kich Ngài và cố gắng giết Ngài?”

Ambert:  “Cái tính hão huyền không muốn nghĩ tưởng như mọi người, là lýdo tạo nên những kẻ vô thần hơn là lý chứng sáng tỏ.”

LaBruyère:  “Tôi muốn thấy một người trong sạch và tiêt độ tuyên bố rằng không có Thượngđế, nhưng không thấy ai cả.”

Bác học Bacon:  “Kiến thức nông cạn đưa người ta xa tôn giáo; trái lại, kiến thức sâu sa đưa người ta lại gần tôn giáo.”

Bác sĩ riêng của Lenine, lúc 83 tuổi, ông xuât bản hai cuốn sách: “Sự bí mật và sự khôn ngoan của thân xác (1958), và “Mầu nhiệm của sự sống” (1960).   Ông nói:  “Môn sinh vật học và môn phân tich tâm lý, đã làm cho tôi trở nên một kẻ hữu thần.”

Văn sĩ Francois Coppée: “Trong những tháng nằm trên giường bệnh, tôi đã sống với sách Phúc Âm. Dần dần những dòng chữ của Sách Thánh trở nên sống động trong tôi. Trong mỗi tiếng, tôi thấy sáng lên một chân lý như một vì sao. Tôi cảm thấy chân lý ấy rung động trong tôi như một qủa tim.    Làm sao từ nay tôi không tin có phep lạ, sau khi đã được phép lạ do sách Phúc Âm làm nơi tôi?   Linh hồn tôi trước kia mù loà trước ánh sáng đức tin, bây giờ đã thấy ánh sáng này với tât cả vẻ huy hoàng của nó.   Linh hồn tôi trước kia điếc đặc trước Lời Chúa, nay đã nge rõ ràng và vui sướng cảm phục.    Linh hồn tôi trước kia tê liệt vì không tìm hiểu tôn giáo, lúc này đã nóng nảy hăng hái bay lên Trời.  Qủy dơ bẩn mà linh hồn tôi bị ám ảnh, nay đã bị đuổi đi.”

Thánh Augustin: "Không ai phủ nhận Thượng Đế, nếu họ không có lợi gì khi phủ nhận Ngài."

Thánh Lêô Cả:  "Cảnh vật thiên nhiên dạy cho mỗi người biêt phải tôn thờ Thiên Chúa."

Thánh vịnh 19:1  "Các tầng Trời xưng tụng vinh quang Thiên Chúa, không trung giãi tỏ sự nghiệp Ngài."

Triêt gia Platon:  "Có thể xây một thành trì trên chín từng mây, dễ hơn cai trị một dân không tôn giáo."

Chateaubriand:  "Tiêu hủy việc thờ tự của Phúc Âm, thì mọi làng phải xây nhiều nhà ngục và phải có nhiều lý hình."

Wernher Von Braun (1917-1977) thám hiểm Mặt Trăng thành công năm 1967. Ông cùng 3 phi hành gia bạn cầm cờ Hoakỳ và đặt ca vịnh trên cung trăng ngợi khen Đấng Tạo Hóa.  Năm 1976 khi diễn thuyết tại Philadelphia, Bang Pennsylvania. Ông nói: "Sự bao la huy hoàng của vũ trụ đã làm cho đức tin vào Đấng Tạo Hóa của tôi tăng thêm. Khoa học và đạo không mâu thuẫn nhưng là chị em ruột. Khoa học tìm thấy sự huy hoàng của vạn vật, trong khi đạo tìm thấy Đấng Tạo Hóa đã dựng nên vạn vật tôt đẹp lạ lùng.  Đạo không phải là di sản mà người đời sau hưởng thụ và bảo vệ. Nhưng đạo cũng như khoa học phải thăng tiến. Người tín hữu phải tìm hiểu đạo và nhà khoa học phải khổ công nghiên cứu mới thành bác học.”

Bác học T. Terier:  "Cứ chung mà nói, mọi khoa học đều dọn trí khôn ta nhận biêt Thiên Chúa hiện hữu. Hơn mọi người khac, nhà bác học dù chuyên về khoa nào, bao giờ cũng dễ dàng nhận thấy mọi vật đều biến chuyển, bị tạo, hỗn hạp, khuyêt điểm, có cùng đich và rât phưc tạp. Dođó, hơn những người dốt nát; nhà khoa học dễ có ý hướng về một Đấng bất di, bất dịch, tự hữu, cần thiêt, hoàn toàn và là Đấng duy nhât an bài mọi sự. Chính vì thế mà người ta bảo: khoa học dẫn đến Thiên Chúa. Và cũng chính vì thế mà người ta có thể nói, vũ trụ vật lý là bí tích của Thiên Chúa."

Giám mục Hulst sau 20 năm nghiên cứu cac vấn đề triêt học. Ngài có viêt năm 1885 rằng: Ngài đã đọc và suy nghĩ rât nhiều về cac sach báo của các nhà vô thần tài giỏi nhât, những nhà thực nghiệm, những nhà phiếm thần đủ cỡ đã viêt, tât cả những cái đó, không làm khuynh đảo long tin của Ngài, mà còn làm cho Ngài tin đến mức độ hiển nhiên, có một đấng Thượng Đế tuyệt đối, có ngôi vị và tạo dựng vạn vật.

Bimarck, một võ quan và là chính khach nổi tiếng của Đưc:  "Người có trí khôn mà không nhận biêt, hay chẳng muốn nhận biết có Thiên Chúa, thì anh không hiểu sao họ không chêt quach đi, vì chán nản và bị khinh bỉ." (thư viêt cho vợ)

A. Eynieu đã công bố bản thống kê : trong số 432 nhà bac học thuộc thế kỷ 19; 34 vị không biêt lập trường tôn giáo, còn 398 phân chia như sau: 15 vị dửng dưng, 16 vị vô thần, 367 vị tin; như vậy là 92% các nhà bác học tin có Thiên Chúa.

Bác sĩ Dennert, người Đưc cũng tuyên bố kêt qủa tìm tòi của ông để biêt quan niệm tôn giáo của 300 nhà bac học, tìm hiểu trong những số lỗi lạc nhất thuộc 4 thế kỷ qua. "38 vị tôi không rõ các ông quan niệm thế nào; còn 262 vị, thì 20 vị dửng dưng, 242 ông tin. Tức cũng 92% tin có Thiên Chúa."

Svetlana Staline, con gái nhà độc tài Staline, sinh ra trong vô thần, huấn luyện trong vô thần, đã trở nên tín hữu Thiên Chúa giáo.

Paul Williams, giáo sư của đại học University of Bristol, và là chủ tịch Hội nghiên cứu Phật giáo của Vương quôc Anh “United Kingdom Association for Buddhist Studies”. Năm 1978, Paul Williams gia nhập Phật giáo và hăng say truyền bá Phật giáo, nhưng sau khi đọc sách của Thoma Aquino, một người Công giáo, Paul Williams đã nhận ra niềm tin Phật giáo hoàn toàn bế tăt, ông viêt: “Nếu Phật giáo là chân thực, thì cuối cùng đối với mỗi chúng ta, cuộc sống cực khổ hiện tại chỉ là hư không, vô ich, vô nghiã. Nhưng nếu đức tin Công giáo là chân thực, thì bấy giờ cuộc sống của mỗi chúng ta có giá trị vô cùng và hoàn toàn viên mãn.”   Lễ Phục Sinh năm 2000, Paul Williams gia nhập Công Giáo.

Lục Trung Tường, nhà ngoại giao Trunghoa, từ nhỏ đã là môn sinh của sân Trình cửa Khổng, và chỉ biêt có đạo ông bà, sau gặp Thiên Chúa giáo như gặp được kho báu, ông đã trở về với

Chúa.  Ông nói: "Ơn cứu độ là chổ tập trung tât cả các nẻo đường, là chổ độc nhât mà đức hiếu của loài người, được tiêp vào đức hiếu thảo siêu nhiên mà Đức Giêsu Kitô đã dạy, và đã cho chúng ta hưởng thụ, để kêt hợp tât cả nhân loại với Thiên Chúa là Cha chúng ta ở trên Trời."

Ngô Gia Lễ, Tri phủ Kim Sơn, Ninh Bình, Băc Việt, nhờ tiêp xuc với tín hữu Thiên Chúa giáo, ông muốn tìm hiểu đạo lý, đã đọc Phuc Âm, đã nhận ra tính cach siêu việt của Đưc Giêsu Kitô, Con Trời giáng thế. Ông nói: "Tôi đọc Phuc Âm một cach thành kính. Tôi nhận thấy Đưc Giêsu Kitô không phải chỉ là nhân vật khac thường, Ngài chính là Con Thượng Đế, đã đến để cứu đời. Tôi là một trong những kẻ được Ngài tỏ mình ra trong Phuc Âm."

Trịnh Sùng Ngô, Giáo sư triết Đại học Honolulu , nguyên Đại sứ Trung Hoa Dân Quôc tại Vatican. Sau khi trở lại, ông giúp nhiều bạn hữu biêt đạo, ông đã đem hêt tâm trí vào việc dịch Thánh Kinh ra tiếng Trung Hoa. Ông nói:  "Thiên Chúa giáo là đạo bởi Trời. Người ta lầm cho đó là đạo của Âu Châu. Đạo đó không phải của Âu châu hay Á châu, không cũ, không mới. Sau nhiều năm lạc lõng, nay tôi được về với Đưc Giêsu, và ở luôn với Ngài thật là vui sướng vô biên. Từ nay sự sống và bản thể tôi được đặt vào lãnh vực đời đời. Gia nhập Hội Thánh Chúa, tôi đã không thiệt gì, nhưng hoàn toàn mãn nguyện."

Họa sĩ Nhật Foujita, dòng dõi tướng quân Samourai, đã giup triều đình Mikado, từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ 12. Thân sinh ông là sĩ quan cấp tướng trong Bộ Tham Mưu Hoàng gia. Sau khi tôt nghiệp trường mỹ thuật Đông Kinh, Foujita được gửi qua Âu châu, để tiêp xúc với mỹ thuật Tây phương vào năm 1912. Đến Paris, Foujita được tiêp xuc với cac danh họa như Picasso, Van Gough, Renoir, Gauguin....được quan sat những tác phẩm ở các bảo tàng viện và Thánh đường. Óc thẩm mỹ làm cho ông chóng nổi tiếng. Năm 1919, 1920, 1923 ông đã trưng bày nhiều tác phẩm gía trị.    Năm 1924-30 ông chỉ huy trang trí Khu Nhật Bản ở Câu Lạc Bộ ĐồngMinh, được huy chương của nươc Phap và Bỉ. Năm 1931 ông qua Mỹ, năm 1933 qua Roma, về Nhật năm 1949, ông và cả gia đình lãnh Phep Thánh Tẩy tại nhà thờ Reims. Ông đã mãn nguyện trở nên con Chúa. Ông nói: "Sự nghiên cứu mỹ thuật Tây phương đã đưa tôi đến những sáng tác của Thiên Chúa giáo, làm cho tôi bước vào một thế giới siêu phàm, ở đấy tôi nhìn thấy Thượng Đế. Những kiến truc vĩ đại, những kiệt tac về điêu khăc, hội họa của Thiên Chúa giáo làm cho tôi rung động tâm hồn, khiến tôi say mê tìm hiểu đến thỏa mãn. Tôi hoàn toàn tin tưởng ở Thượng Đế và nhất quyết trở về với Ngài, với tất cả niềm vui mừng, và hãnh diện.”

Học giả Mashaba, người Ấn độ, sinh tại Bihar. Ông được du học bên Anh nhiều năm, tuy có tài về hành chánh; ông không nhận một công tác nào trong khối Liên hiệp Anh; sẵn có khuynh hướng về thần bí học, ông đã sống độc thân để nghiên cứu về cac tôn giáo. Ông nói: "Sở dĩ mỗi tôn giáo khac nhau, vì mỗi giáo tổ nhìn thấy một khía cạnh đau khổ của con người và tìm cach cứu giúp theo khía cạnh đó. Bởi thế có thứ kêu gọi từ bi quảng đại, có thứ chủ trương diệt dục hy sinh, có thứ dùng hiếu thảo nhân nghiã, có thứ giúp tu thân cứu đời, công bằng bác ái, nhưng không tôn giáo nào đầy đủ như Thiên Chúa giáo, vì xây dựng cho con người một cuộc sống có ý nghiã cao thượng, bảo đảm cho một tương lai hạnh phuc, và có nhiều đặc điểm mà cac tôn giáo khac không có, như:

Vị giáo tổ bởi Trời giáng thế và đã được Sấm ký báo trươc từ mấy ngàn năm trong lịch sử hẳn hòi, khac hẳn với những giáo tổ khac, chỉ là người trần tục.    Có từ Trời xuống lập đạo, thì đạo đó mới có khả năng đưa con người về Trời.    Đạo Trời thì như thuốc trường sinh, dùng thuôc này thì không cần thuốc nào nữa; vì các đạo khác chỉ xoa dịu, hay làm quên đau khổ trong thời hạn, còn ĐạoTrời chẳng những cứu khổ, còn ban cho con người sự sống đời đời, đó mới thật là ước vọng cao nhất của mỗi người.

Đưc Giêsu chiến thắng sự chêt, đã sống lại và về Trời, bảo đảm cho cuộc hành trình và niềm hy vọng vững chăc của người tín hữu.   Vì mang săc thái siêu phàm và chứa đựng những gía trị cao thượng vượt mức, nên Đạo Trời bị gen tị, bị hiểu lầm hay lấn ap; thế mà vẫn phát triển điều hòa, vẫn vững bền giữa mọi gian lao thử thach, khiến nhiều người trươc kia thờ ơ, lãnh đạm, hay thù get, phải tìm hiểu và cảm phục, và từ đó trở nên tín hữu nhiệt thành.

Ông kêt luận bằng một vídụ: Trước khi mặt Trời mọc, người ta đã thấy ánh sáng của Đạo Trời chiếu vào nhân loại, trước khi chính Con Trời giáng thế làm sáng tỏ hẳn Đạo Trời. Nay ngày của cuộc đời đã đến lúc chính ngọ, thì không ai mà không được ánh sáng của Đạo Trời soi tới.

J.J Rousseau có ý mỉa mai những ai cho rằng câu chuyện về cuộc đời Chúa Giêsu là bịa đặt:  "Bịa đặt như thế thì không được; tác gỉa bịa đặt, (nếu có) chắc chắn còn lạ lùng hơn anh hùng trong cuốn sách."

Tổng Thống George Washington: "Không thể có một chính phủ đúng, khi chính phủ đó phủ nhận Thượngđế và Kinh thánh."

Tổng Thống Abraham Lincoln: "Kinh Thánh là qùa tặng qúy nhất mà Thượng Đế đã ban cho nhân loại."

Tổng Thống Dwight Eisenhower:  "Văn minh của chúng ta được xây dựng trên nền tảng Kinh Thánh."

Tỗng Thống Andrew Jackson: "Kinh Thánh phải là nền tảng cho thể chế của chúng ta."

Nhà bác học người Mỹ, có ý mỉa mai và đánh giá những kẻ chủ trương vô thần như sau:

Trong con người có một số nước đủ giặt một cái khăn bàn.

Máu chứa chất săt, đủ làm 7 cái đinh đóng móng ngựa.

Có một số chất vôi đủ quét một bức tường nhỏ. Đôt ra than, có thể làm được 65 cây viêt chì.   Chất phôt phát, đủ làm được hộp diêm, và chất muối, cỡ hai muỗng nhỏ.   Bán những thứ đó được  95 xu, đó là giá trị của kẻ vô thần.

Cái chêt của Voltaire: Voltaire là kẻ vô thần. Ông cố hạ bệ Thiên Chúa và đánh phá Giáo hội Công giáo. Không một lời gian dối và vu oan nào mà ông tởm gớm. Ông chiêu tập một nhóm, lấy tên là “Beelzebuth” là tên của tướng quỷ.  Năm 1753 ông lên án Thiên Chúa:  "20 năm nữa Thiên Chúa về hưu, vì không còn ai phục vụ Ngài."    Đúng 20 năm sau, năm 1773, Voltaire tăt thở trong cái chết thê thảm. Ông thấy những hình ảnh làm ông run sợ, ông la lên:  "Một bàn tay đang kéo tôi đến với Thiên Chúa... Đây qủy muốn băt tôi...Tôi trông thấy hỏa ngục."    Ông tru tréo gầm thét như thú vật hung dữ. Ông lấy móng tay cấu xé thịt mình ra từng mảnh.  Một bà gìa thường giúp người hấp hối, sau khi chứng kiến cái chêt của Voltaire, đã nói:  "Khi ấy tôi ở gần giường của Voltaire đang hấp hối, tôi không còn muốn thấy một người vô đạo chết nữa."      Một người khác cũng chứng kiến cái chêt của Voltaire, nói:  "Nếu qủy có thể chêt được, cũng không chêt dữ như Voltaire."

Hỏa ngục. Năm 1917, Đức Mẹ Maria hiện ra với ba trẻ tại Fatima , nước Bồ Đào Nha, đã cho cac em thấy hỏa ngục và các em mô tả lại như sau:  "Đức Mẹ cho chúng con thấy một biển lửa, dường như ở dưới mặt đât. Chìm ngập trong lửa là qủy dữ và các linh hồn dưới hình thể con người, giống như những cục than hồng trong suốt, đen đủi, hoặc xám xịt. Họ nổi lên trong đám cháy, bị các ngọn lửa nâng lên cao, những ngọn lửa này phát ra từ thân hình họ, cùng với một đám khói lớn. Họ lại rơi xuống mọi phía, giống như những tia lửa trong một đám cháy lớn, vô trọng lượng, hoặc mất thăng bằng, và giữa những tiếng la hét và rên rỉ vì đau đớn và tuyệt vọng, làm kinh khiếp chúng con và làm chúng con run lên vì sợ hãi. Các qủy dữ có thể phân biệt do các hình thù gây kinh hãi và ghê tởm, giống như những con vật khủng khiêp và chưa bao giờ thấy, tất cả đều đen đủi và trong suôt. Thị kiến này kéo dài một lúc. Làm sao chúng con có thể bày tỏ lòng biết ơn cho xứng với Mẹ yêu dấu trên Trời của chúng con, Đấng đã báo trước cho chúng con trong lần hiện ra thứ nhât, khi hứa rằng, Ngài sẽ đem chúng con về Trời. Bằng không, con nghĩ rằng chúng con sẽ chêt, vì sợ hãi và kinh khiêp"

Hy vọng mấy trang sưu tầm này, không vô ich cho những tâm hồn khao khát chân lý.

NguyễnHyVọng

--

CHÚA GIÊSU là Đấng duy nhất có câu trả lời chính xác đúng: Tôi từ đâu đến? Tôi sống để làm gì? Linh hồn tôi sẽ đi đâu, khi nó lià thân xác tôi?    
(JESUS is the only one who has the exact right answers: Where do I come from? What do I live for? Where will my soul go when it leaves my body?)

Comments

Popular posts from this blog

Thánh Kinh Công giáo

Thánh Kinh Công giáo

Kinh thánh TL (bản dịch mới)